- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh B phạm tội Hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh B phạm tội Hiếp dâm;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 111 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KÔNG CHRO TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:01/2018/HSST Ngày: 07/02/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KÔNG CHRO TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Tiến.
Các Hôi thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Quýt, Hiệu trưởng Trường tiểu học Võ Thị Sáu, xã Kông Yang, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
2. Ông Đinh Văn Súy, Bí thư Huyện đoàn Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tình, Cán bộ Toà án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2018/HSST, ngày 05 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Đinh B, tên gọi khác: T, sinh ngày 31/12/1999 tại K - Gia Lai; Nơi cư trú: Làng K, xã An T, huyện K, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Bahnar; Con ông Đinh N (đã chết) và bà Đinh Thị H, sinh năm 1978; Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị bắt tạm giam ngày 21/10/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Chị Đinh Thị A, sinh năm 1992; Trú tại: Làng K, xã A, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh B: Ông Nguyễn Thành T, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại chị Đinh Thị A: Bà Cao Thị Mi S, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Đinh B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 14/10/2017, Đinh B mang theo một cây rựa, Đinh D mang theo một bịch rượu cùng với Đinh P đi từ làng K, xã A, huyện K qua làng K , xã A chơi. Khi đến gần nhà rẫy bà Đinh Thị T (là mẹ chồng của Đinh Thị A) ở làng K thì D giấu bịch rượu vào đám mía rồi đi vào nhà rẫy của bà T, thấy trong nhà đang tổ chức uống rượu nên cả 03 người cùng vào ngồi uống rượu. Được một lúc cả 3 người qua nhà rẫy của ông Đinh Đ (cách nhà rẫy của bà T khoảng 100m) tiếp tục uống rượu, khoảng 10 phút sau thì quay lại nhà rẫy của bà T. Lúc này, trong nhà rẫy chỉ còn bà T và Đinh Thị A nhưng do hết rượu nên cả 03 người ngồi chơi. Trong khi mọi người đang nói chuyện, Đinh B ra ngoài đi vệ sinh, lúc này D nói A ra ngoài đám mía lấy rượu vào uống tiếp. Khi thấy A từ trong nhà đi ra, B nảy sinh ý định giao cấu với A nên cầm cây rựa của mình đi theo A ra đến đám mía cách nhà rẫy khoảng 20m thì ôm lấy A. A quay lại chống cự và bỏ chạy thì bị B nắm lấy tóc giật ngã nằm ngửa xuống đất, B dùng rựa kề vào cổ A và đe dọa “Mày cho tao chơi, không cho tao giết” nên A không giám chống cự mà chỉ khóc, B tuột quần A và thực hiện hành vi giao cấu. Cùng lúc này nghe tiếng có người khóc bên ngoài nên P và D cầm đèn pin ra soi và nhìn thấy B đang giao cấu với A. Khi thấy P và D soi đèn, B liền quát “Mày ra đây làm gì” nên P và D bỏ đi. Lợi dụng lúc B không để ý nên A đã vùng dậy bỏ chạy. Ngày 21/10/2017, sau khi tiếp nhận tin báo của Đinh Thị A, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh và thu giữ vật chứng của vụ án. Ngày 9/11/2017 thì khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 243/TD-TTPY ngày 30/10/2017 của trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, xác định: Toàn thân Đinh Thị A không dấu vết trầy xước; vùng bụng bẹn, mặt trong đùi không vết xây xát; môi lớn, môi bé không vết xây xát, âm đạo sạch; màng trinh rách cũ, tử cung nhỏ. Hiện tại không thấy túi thai trong tử cung.
Tại Bản cáo trạng số 02/CTr -VKS, ngày 03 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Đinh B ra trước Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai để xét xử về tội Hiếp dâm theo khoản 1 Điều 111 của Bộ luật hình sự.
Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Đinh B phạm tội Hiếp dâm;
- Áp dụng khoản 1 Điều 111; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 69, Điều 74 của Bộ luật hình sự . Xử phạt bị cáo Đinh B từ 24 đến 30 tháng tù; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tổng hợp với Bản án số 23/2017/HSST, ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện K có mức án 36 tháng tù về tội Cướp tài sản để buộc bị cáo chấp hành. Ngoài ra đại diện VKS còn nêu các ý kiến đề nghị về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự và án phí.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Thành T thống nhất với tội danh và các điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại là bà Cao Thị Mi S trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh B là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người bị hại. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo mức án cao nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát và buộc bị cáo Đinh B phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho người bị hại chị Đinh Thị A số tiền 3.000.000 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Đinh B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung của bản cáo trạng, bị cáo khai nhận:
Khoảng 18 giờ ngày 14/10/2017, sau khi uống rượu Đinh B đã dùng rựa khống chế, đe dọa và thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với Đinh Thị A tại rẫy mía cách nhà rẫy bà Đinh Thị T ở làng K, xã A, huyện K khoảng 20m. Khi B đang giao cấu với A thì bị Đinh P và Đinh D soi đèn pin phát hiện, lợi dụng lúc B không để ý nên chị A đã vùng dậy bỏ chạy. Ngày 9/11/2017, Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đinh B về tội Hiếp dâm để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã thấy được tội lỗi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận tội trên đây của bị cáo; lời khai của người bị hại và lời khai của người làm chứng là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đinh B đã phạm tội Hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến danh dự nhân phẩm và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người phụ nữ được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Xét hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Đinh B, thấy rằng bị cáo còn trẻ nhưng có lối sống không lành mạnh, bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm công dân là vi phạm pháp luật, Để thỏa mãn dục vọng thấp hèn, bị cáo đã khống chế và dùng hung khí đe dọa uy hiếp tinh thần thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của chị A. Bản thân bị cáo đang được tại ngoại chờ xét xử về tội ‘Cướp tài sản” bị cáo không ý thức hơn việc chấp hành pháp luật mà tiếp tục phạm tội, do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình thuộc diện hộ nghèo, khi phạm tội là người chưa thành niên, đồng thời cần tổng hợp với Bản án số 23/2017/HSST, ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự để buộc bị cáo chấp hành.
Đối với người bị hại là chị Đinh Thị A bị bị cáo Đinh B khống chế và thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn. Về hành vi phạm tội của bị cáo chị A đề nghị xử lý theo pháp luật. Về trách nhiệm dân sự chị yêu cầu bị cáo B bồi thường số tiền 3.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần. Yêu cầu của người bị hại là có cơ sở, bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền trên nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận và buộc bị cáo phải bồi thường.
Về vật chứng: Đối với 01 (Một) con dao rựa do Đinh B sử dụng đe dọa chị A để thực hiện hành vi phạm tội có giá trị nhỏ, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có đơn xin miễn án phí do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Đinh B phạm tội Hiếp dâm;
2. Áp dụng khoản 1 Điều 111; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69, Điều 74 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đinh B 24 (Hai bốn) tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự : Tổng hợp hình phạt với Bản án số 23/2017/HSST, ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đã xử phạt bị cáo Đinh B 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2017 về tội “Cướp tài sản”.
Hình phạt chung bị cáo Đinh B phải chấp hành 60 (Sáu mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ngày 21/10/2017.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590 và Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015:
Công nhận việc bị cáo Đinh B phải bồi thường cho người bị hại chị Đinh Thị A số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán với mức lãi suất theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 nếu các bên không thỏa thuận thì mức lãi suất thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về vật chứng :Áp dụng các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) con dao rựa có chiều dài 51,5cm, có lưỡi dao bằng kim loại dài 26,5cm, phần lưng rựa màu đen, bụng rựa có màu trắng, lưỡi rựa nói rộng nhất 3,15cm, cán rựa hình trụ bằng cây le màu vàng nâu có chiều dài 25cm, đường kính 2cm, phần tiếp giáp giữa cán rựa và lưỡi rựa được bọc bằng một vòng kim loại màu trắng có chiều dài 11,4cm do Đinh B sử dụng khi phạm tội.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/01/2018 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).
5.Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Miễn nộp toàn bộ án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh B.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm; Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Thi hành án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đinh Văn Súy Nguyễn Thị Quýt | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Tiến THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tiến |