vanban.org

Bản án 01/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tình cảm: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Triệu Thị Ba với anh Chíu Tắc Phúc là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: không có. Về tài sản chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tình cảm: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Triệu Thị Ba với anh Chíu Tắc Phúc là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật hình sự Xử phạt

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA CHẼ
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 01/2018/HSST
Ngày 24 /05/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Bùi Xuân Thủy.

Ông: Nguyễn Văn Khánh.

Thư ký phiên tòa: Ông Vi Văn Tần; thư ký Tòa án.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ tham gia phiên tòa: ông Vi Đức Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 04 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 26 tháng 11 năm 1990. Nơi sinh: xã M, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam.

Bố đẻ: Chưa xác định được; con bà: Đinh Thị T sinh năm 1963; Bị cáo là con duy nhất.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 8/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Chấp hành xong hình phạt tù về địa phương ngày 15/10/2011.

Ngày 15/03/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 15/04/2014.

Bị cáo đầu thú ngày 01/03/2018, bị tạm giữ đến ngày 7/03/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Chu Thị C sinh ngày 17/5/1982 địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện B, tỉnh Quảng Ninh có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Chu Văn K; sinh ngày 7/10/2001; địa chỉ: Thân Đ, xã M, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

Ngô Thị N, sinh năm 1969, địa chỉ: Khu 1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

Phạm Anh T, sinh ngày: 20/03/1988, địa chỉ khu 2 thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

Đinh Thị T, sinh ngày 31/8/1963, địa chỉ: thôn Đ, xã M, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

Tất cả các người làm chứng trên đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 8 giờ ngày 24/02/2018, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà mình ở thôn Đ, xã M, huyện B đến khu vực nhà chị Chu Thị C (nhà cùng thôn) thấy nhà chị C đóng cửa nên đoán biết không có ai ở nhà, T đi đến gần thấy cửa chính có treo ổ khóa nhưng không khóa; T liền mở cửa đi vào phòng khách, rồi tiếp tục đi vào phòng ngủ của vợ chồng chị C để tìm tài sản; T đi đến giường ngủ lật đệm giường lên thì thấy một tệp tiền buộc bằng dây thun; T cầm tệp tiền đút vào túi áo khoác ngoài rồi đi về nhà đếm được 17.000.000đ (mười bẩy triệu đồng), gồm 34 tờ mệnh giá 500.000đ, sau đó đem cất xuống dưới đệm giường ngủ của mình. Toàn bộ số tiền trộm cắp T khai cầm sang huyện S, tỉnh Bắc Giang mua 01 điện thoại Iphone hết 800.000đ, tham gia đánh bạc và thua hết khoảng: 12.000.000đ, ăn tiêu cá nhân hết khoảng: 1.000.000đ; khi về đến nhà T đếm lại tiền thấy còn 3.650.000đ nên cất 500.000đ (05 tờ mệnh giá 100.000đ) dưới giường ngủ của mình; số tiền còn lại T mua 01 tai nghe điện thoại hết 150.000đ; cho bạn là anh Chu Văn K vay 1.500.000đ để mua điện thoại, ăn sáng hết 100.000đ. Ngày 01/03/2018 T đến công an huyện Ba Chẽ đầu thú và tự nguyện giao nộp 1.400.000đ; 01 điện thoại Iphone, 01 tai nghe, Cơ quan điều tra thu giữ 500.000đ do Thiêm cất dấu dưới giường; anh Chu Văn K tự nguyện nộp lại : 1.500.000đ.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T đã bồi hoàn toàn bộ số tiền trộm cắp 17.000.000đ cho chị Chu Thị C.

Tại phiên tòa Bị cáo hoàn toàn nhận tội trộm cắp tài sản như trên.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSBC ngày 17 tháng 4 năm 2018; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 9 – 12 tháng tù

Về trách nhiệm dân sự áp dụng điều điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu xung ngân sách nhà nước 01 điện thoại và 01 tay nghe.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự trả cho Nguyễn Văn T 1.900.000đ và Chu Văn K 1.500.000đ.

Miễn hình phạt bổ xung cho Bị cáo Nguyễn Văn T.

Ý kiến của bị hại: Bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền bị mất trộm 17.000.000đ không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là sai trái, bị cáo mong hội đồng xét xử với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội về lo cho gia đình và xin được nhận lại toàn bộ số tài sản mà cơ quan điều tra đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi; Quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên; Cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự; Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hay tố cáo nào về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn văn T khai nhận tại phiên tòa, vào ngày 24/02/2018 bị cáo đã lén lút vào nhà chị Chu Thị C ở cùng thôn Đ, xã M, huyện B chiếm đoạt số tiền 17.000.000đ (Mười bẩy triệu đồng) của chị Chu Thị C để ở dưới đệm giường; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Như vậy Cáo trạng số không 01/CT-VKSBC ngày 17/04/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân cũng như gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ngoài ra, bản thân Nguyễn Văn T đã 02 lần bị kết án tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo T đã không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại đồng thời sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú và người bị hại đã có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Chu Thị C đã nhận lại toàn bộ số tiền bị trộm cắp 17.000.000đ do Nguyễn Văn T hoàn trả nên không có yêu cầu gì thêm.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo làm ruộng thu nhập thấp không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng.

Về vật chứng, cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Văn T số tiền: 1.900.000đ 01 điện thoại Iphone; 01 tai nghe đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội hay tài sản phi pháp bởi Nguyễn Văn T đã bồi thường xong cho bị hại toàn bộ số tài sản trộm cắp là 17.000.000đ nên đây là tài sản của Nguyễn Văn T do đó cần tuyên trả cho bị cáo. Chu Văn K nộp tại Cơ quan điều tra 1.500.000đ tiền vay của Nguyễn Văn T nhưng không biết là tiền T trộm cắp; nay T đã bồi thường xong cho bị hại nên số tiền này được trả lại cho Chu Văn K.

Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn T khai sử dụng tiền trộm cắp tham gia đánh bạc bằng hình thức sóc đĩa với một số đối tượng không quen biết tại huyện S, tỉnh Bắc Giang, T không nhớ rõ, không xác định được địa điểm cụ thể; không thuộc thẩm quyền điều tra nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Ba Chẽ đã tách ra, đồng thời thông tin, phối hợp với cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện S, tỉnh Bắc Giang điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T và bị hại Chu Thị C có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 điều 173; các điểm b, s khoản 1 điều 51 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Nguyên Văn T 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 01/03/2018 đến ngày 7/03/2018.

Miễn hình phạt bổ sung dối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả cho Nguyễn Văn T: 01 (một) điện thoại di động dán mác Iphones, mầu trắng, iMel: 013555008370254; 01 (một) tai nghe (tai phon) nghe nhạc hai loa tròn chóp cụt mầu vàng có chữ SONY trên mặt chóp cụt; 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng); trả cho Chu Văn K 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26 tháng 4 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ điều 331 và điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại Chu Thị C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 24/5/2018. Nơi nhận:

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh QN

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa -VKSND tỉnh QN -VKSND huyện Ba Chẽ. -Cơ quan điều tra CA Ba Chẽ. -Cơ quan THAHS CA Ba Chẽ -Bị cáo, bị hại -Cơ quan THADS huyện Ba Chẽ. -UBND xã nơi bị cáo cư trú. -Lưu văn phòng và hồ sơ

Lê Viết Cƣờng

Phần thẩm vấn.

1. Bị cáo đã nghe rõ bản cáo trạng đại diện VKS vừa công bố không? 2. Bị cáo thấy bản cáo trạng vừa công bố và bản cáo trạng bị cáo nhận được có điểm gì khác nhau không? 3. Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội gì? 4. Theo bị cáo; bị cáo có phạm tội đó không? 5. Bị cáo hãy trình bầy lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình? 6. Tại sao bị cáo biết gia đình chị Chiên để tiền dười đệm giường ngủ? 7. Thường ngày bị cáo có hay lên nhà chị Chiên chơi không? 8. Bị cáo thấy gia đình chị Chiên có Tủ hoặc két không?

- Không theo dõi làm sao bị cáo biết gia đình chị Chiên để tiền dười đệm giường trong khi đó gia đình có tủ, thông thường thì tủ dùng để các tài sản có giá trị lên khi vào nhà mục đích lấy trộm tài sản thì thường phải tìm tại nơi quan trọng nhất, an toàn nhất là tủ sau khi tìm kiếm ở những nơi quan trọng như vậy không đạt được mục đích thì mới tìm đến những nới khác, song bị cáo lại không thực hiện như vậy mà đi thẳng vào đầu giường và lật đệm lên ngay và lấy được tài sản luôn rất nhanh và chính xác như vậy chỉ có thể khảng định bị cáo đã biết trước ở đó có tài sản đúng không? 9. Tại cơ quan điều tra bị cáo có lời khai sau khi trộm cắp được tiền bị cáo sang huyện Sơn động tỉnh Bắc Giang mua điện thoại sau đó về xã Minh cầm huyện Ba Chẽ đánh bạc với một số…nay tại phiên tòa bị cáo lại khai….vậy bị cáo khảng định lời khai nào là đúng? 10. khi trộm cấp được tiền bị cáo đã sử dụng thế nào? 11. Bị cáo có suy nghĩ gì về vi phạm tội của mình không? 12. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại chưa? Bồi thường được bao nhiêu? Ai bỏ tiền ra bồi thường? 13. Bị cáo đã 02 lần bị tòa án ND huyện Ba Chẽ xử tù về tội trộm cắp tài sản (01 lần 6 tháng tù vào năm 2011, 01 lần 15 tháng tù vào năm 2013) có dúng không? Vậy tại sao bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn đi trộm cắp tiếp bị cáo nói rõ cho HĐXX biết lý ro? 14. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan VKS của điều tra viên, Kiểm sát viên không? (Hỏi Chu Văn Khánh: anh vay của Nguyễn Văn Thiêm số tiền 1.500.000đ để mua điện thoại và tại cơ quan điều tra anh đã nộp 1.500.000đ nay anh có yêu cầu nhận lại số tiền này không? Hay anh trả luôn cho Nguyễn Văn Thiêm mà không cần nhận lại.)

-Hỏi Bị cáo Nguyễn Văn Thiêm Bị cáo có đồng ý nhận lại số tiền 1.500.000đ do anh Chu Văn Khánh nộp tại cơ quan điều tra để trả cho anh không?

Khai mạc phiên tòa:

Hôm nay ngày 24/5/2018 Tòa án nhân dân huyện ba Chẽ, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Thiêm bị truy tố về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 BLHS thay mặt Hội đồng xét xử Tôi tuyên bố khai mạc phiên tòa.

Thay mặt HĐXX Tôi công bố Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thư ký báo cáo danh sách Tòa triệu tập có mặt, vắng mặt, lý do.

Trình tự phiên tòa

1. khai mạc phiên tòa. 2. đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. 3. thư ký báo cáo danh sách tòa triệu tập (có mặt, vắng mặt). “Đại diện VKS có ý kiến gì không, có yêu cầu tòa triệu tập thêm người nào nừa không, có đưa thêm chứng cứ nào khác không” 4. Kiểm tra lý lịch bị cáo và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. 5. Phổ biến quyền và nghĩa vụ cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. (Bị cáo điều 61; bị hại điều 62; người làm chứng điều 66 BLTTHS năm 2015).

-Giải thích cho Bị cáo biết về những bản án được công bố trên cổng thông tin điện tử của Tòa án và quyền của họ về việc yêu cầu tòa án không công bố những nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình. 6. Giới thiệu thành phần HĐXX. 7. VKS công bố bản cáo trạng cho bị cáo. 8. Phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa. 9. Kết thúc thẩm vấn; VKS luận tội cho bị cáo. 10. Phần tranh luận tại phiên tòa nếu có. 11. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng. 12. HĐXX nghị án. 13. Tuyên bản án chính thức cho bị cáo. *1. giới thiệu thành phần HĐXX; Hỏi Đại diện VKS, hỏi Bị cáo; Bị hại có xin thay đổi ai không. 2. Hỏi Bị cáo đã nhận được bản cáo trang – Quyết định truy tố của viện kiểm sát chưa?

- Bị cáo đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án chưa? Nhận thời gian nào? Ngày 10/5/2018 tại Tòa án nhân dân huyện. 3. Hỏi : Bị cáo, bị hại có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không?

Kết thúc phần thủ tục- chuyển phần xét hỏi- Đề nghị VKS công bố bản cáo trạng cho bị cáo. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BA CHẼ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH QUẢNG NINH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 30’ ngày 24 tháng 5 năm 2018.

Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông: Bùi Xuân Thủy.

- Ông: Nguyễn Văn Khánh.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2018 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn Thiêm, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1990. Tại xã Minh Cầm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

Căn cứ các điều 299; 326 và điều 327 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy dịnh của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết, Hội đồng nhất trí: 3/3 2. Các chứng cứ, tài liệu trong vụ án do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật nên hợp pháp. Kết quả biểu quyết, Hội đồng nhất trí: 3/3 3. Tại phiên tòa cũng như quá trình tố tụng trước đó bị cáo không có khiếu nại, tố cáo nên hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đúng quy định của pháp luật nên hợp pháp. Kết quả biểu quyết, Hội đồng nhất trí: 3/3 4. Về tội danh: Có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn Thiêm phạm tội: Trộm cắp tài sản. Kết quả biểu quyết, Hội đồng nhất trí: 3/3. 5. Về điều luật áp dụng: khoản 1 điều 173; các điểm b, s khoản 1 điều 51 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn Thiêm: 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 01/03/2018 đến ngày 7/03/2018. Kết quả biểu quyết, Hội đồng nhất trí: 3/3.

Tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn văn Thiêm để đảm bảo công tác thi hành án. Kết quả biểu quyết nhất trí thông qua: 3/3.

Không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo. Kết quả biểu quyết nhất trí thông qua: 3/3. 6. Về các vấn đề khác:

Về trách nhiệm dân sự đã hoàn trả xong nên không đề cập. Kết quả biểu quyết nhất trí thông qua: 3/3.

Áp dụng điều 47 Bộ Luật hình sự, điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự trả cho bị cáo Nguyễn Văn Thiêm 01 điện thoại, 01 tai nghe và 1.900.000đ, trả cho Chu Văn Khánh 1.500.000đ như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả biểu quyết nhất trí 3/3.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Thiêm phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết nhất thí thông qua: 3/3.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết nhất trí thông qua 3/3.

Biên bản kết thúc vào hồi 11h ngày 24/5/2018.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thủy

Nguyễn Văn Khánh

Lê Viết Cường

SỐ LIỆU BÁO CÁO HĐND HUYỆN

6 tháng đầu năm 2017

1. Án hình sự:

- Tổng thụ lý 03 vụ - 05 bị cáo (02 vụ - 02 bị cáo tội trộm cắp tài sản, 01 vụ - 03 bị cáo tội tàng trữ, mua bán trái phép chất Ma túy). Đã xét xử xong cả 03 vụ - 05 bị cáo, 100% xử tù giam 2. Án tranh chấp dân sự:

- Thụ lý 01 vụ tranh chấp đất nhà ở; án mới thụ lý đang giải quyết. 3. Án Hôn nhân và gia đình:

- Tổng thụ lý 14 vụ; đã xét xử và giải quyết xong 13 vụ ( Xử không công nhân là Vợ - Chồng 02 vụ; Công nhận thuận tình ly hôn 11 vụ); còn tồn 01 vụ án mới thụ lý. 4. Thi hành án hình sự:

- Thụ lý 01 bị án 42 tháng tù giam đã ra quyết định thi hành 42 tháng tù giam. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BA CHẼ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

------------------------Số: 01/2016/TB-TA

Ba Chẽ,ngày 30 tháng 05 năm 2016

Kính gửi: Viện Kiểm Sát nhân dân huyện ba Chẽ.

Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ thụ lý vụ án Dân sự số: 08/2016/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 05 năm 2016 Về việc: Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình; Giữa nguyên đơn chị Triệu Thị Ba, sinh năm 1978 trú tại Thôn Bình Hồ, xã Quảng Lâm, huyện Đầm Hà,tỉnh Quảng Ninh và bị đơn anh Chíu Tắc Phúc, sinh năm 1979 trú tại thôn Nà Làng, xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

Vụ án thuộc trường hợp Viện Kiểm Sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Vậy Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ thông báo cho Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Ba Chẽ để Quý Viện cử Kiểm sát Viên tham gia theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA CHẼ

- Như kính gửi

Thẩm phán

- Lưu hồ sơ

Lê Viết Cường TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BA CHẼ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

------------------------Bản án số: 02/2016/HNGĐ-ST Ngày: 16/6/2016 V/v: Tranh chấp HNGĐ

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA CHẼ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Cường Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ. Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Tho.

2. Bà Lê Thị Phương. Thư ký Tòa án trực tiếp ghi bút ký tại phiên tòa: Ông Vi Văn Tần cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Kiên; Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/06/2016 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ,tỉnh Quảng Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2016/TLST-HNGĐ ngày 04/05/2016 về Hôn nhân và Gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02 /2016/QĐXX-ST ngày 31 tháng 05 năm 2016 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Ba (Triệu Thị Lan); Sinh năm 1978. Trú quán: Thôn Bình Hồ; Xã Quảng Lâm; huyện Đầm Hà;tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa. 2. Bị đơn: Anh Chíu Tắc Phúc; Sinh năm 1979. Trú quán: Thôn Nà Làng; xã Đồn Đạc; huyện Ba Chẽ; tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 03 tháng 05 năm 2016, được bổ xung bằng biên bản ghi lời khai ngày 23/05/2016 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Triệu Thị Ba trình bầy: Chị Ba và anh Chíu Tắc Phúc không được yêu nhau và tìm hiểu nhau mà do gia đình Bố Mẹ tổ chức cưới hỏi theo phong tục, về sống chung cùng nhau từ năm 1998, không đến Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn, khi về sống chung hai vợ chồng sống cùng với bố,mẹ của anh Phúc là ông Sáng Cắm tại thôn Nà làng, xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ,mới đầu cuộc sống chung của hai vợ chồng là hạnh phúc đến năm 2004 thì làm nhà ra ở riêng tại thôn Nà Làng, Xã Đồn Đạc, huyện ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh và chung sống đến năm 2010 trong 12 năm chung sống chúng tôi không có con chung nên tình cảm dạn nứt năm 2010 chị Ba chuyển xuống sinh sống tại thôn Bình Hồ, xã Quảng Lâm, huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh đến nay, không ai còn quan tâm đến ai và tình cảm vợ chồng giữa chị Ba và anh Phúc không còn chị Ba đề nghị Tòa án giải quyết:

Về tình cảm: Xin được ly hôn với anh Chíu Tắc Phúc.

Về con chung và Tài sản chung: Đều không có nên không yêu cầu giải quyêt.

Về án phí: Chị Triệu Thị Ba có quan điểm nếu ly hôn chị Ba xin chịu toàn bộ án phí ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 23/05/2016 và các lời khai tiếp theo bị đơn anh Chíu Tắc Phúc trình bầy: Anh Phúc và chị Ba lấy nhau,về chung sống với nhau từ năm 1998,trước khi lấy nhau hai người không được tìm hiểu nhau mà do bố mẹ hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục,tập quán và cũng không đến UBND cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật,sau khi tổ chức đám cưới xong thì về ở cùng bố mẹ là ông Sáng Cắm tại thôn Nà Làng,xã Đồn Đạc,huyện Ba Chẽ đến năm 2004 thì làm nhà ra ở riêng tại thôn Nà Làng,xã Đồn Đạc,huyện Ba Chẽ đến năm 2010 thì chúng tôi sống ly thân nhau cho tới nay,nguyên nhân là do 12 năm sống chung mà không có con chung,hiện tại không ai còn quan tâm đến ai nữa và tình cảm vợ chồng giữa anh Phúc và chị Ba không còn,anh Phúc đồng ý ly hôn chị Ba.

Về con chung và tài sản chung: Đều không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí nếu ly hôn anh Chíu Tắc Phúc đồng ý để chị Triệu Thị Ba chịu toàn bộ án phí ly hôn.

Đại diện Viên Kiểm Sát nhân dân huyện ba Chẽ tại phiên tòa có ý kiến về việc Thẩm phán,Hội đồng xét xử tuân theo đúng pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án; Những người tham gia tố tụng dân sự chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,sau khi thảo luận và nghị án,Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Triệu Thị Ba và anh Chíu Tắc Phúc tổ chức đám cưới và về chung sống với nhau từ năm 1998,không đăng ký kết hôn,trước khi về sống chung cùng nhau hai người không được tìm hiểu mà do bố mẹ hai bên gia đình tổ chức theo phong tục tập quán,đến năm 2010 thì ly thân nhau cho tới nay không còn tình cảm và quan tâm tới nhau nữa nguyên nhân là quá trình sống chung 12 năm hai người không có con chung, quá trình chung sống cùng nhau nhưng Chị Triệu Thị Ba và anh Chíu Tắc Phúc không đến Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật,vì vậy căn cứ vào khoản 1 điều 14,khoản 2 điều 53 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của chị Triệu Thị Ba và anh Chíu Tắc Phúc không được pháp luật thừa nhận, do đó không có cơ sở để chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Triệu Thị Ba với anh Chíu Tắc Phúc mà cần thiết phải xử không công nhận quan hệ giữa chị Triệu Thị Ba và anh Chíu Tắc Phúc là quan hệ vợ chồng.

Về con chung và tài sản chung đều không có,không yêu cầu nên không đề cập.

Về án phí chị Triệu Thị Ba phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các nẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 điều 14; khoản 2 điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 điều 131, khoản 1 điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự. Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí ,lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Về tình cảm: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Triệu Thị Ba với anh Chíu Tắc Phúc là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: không có.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về án phí: Chị Triệu Thị Ba phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được trừ vào số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị Ba đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001124 ngày 04/05/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba chẽ.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt chị Triệu Thị Ba,anh Chíu Tắc Phúc báo cho chị Triệu Thị Ba và anh Chíu Tắc Phúc biết quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TA tỉnh QN

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện BC

- UBND xã Đồn Đạc.

- Các đương sự.

- Lưu Hồ sơ,VP.

Lê Viết Cường

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa Đỗ Thị Tho

Lê Thị Phƣơng

Lê Viết Cƣờng

Cỡ chữ