vanban.org

Bản án 01/2018/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm g khoản 2 điều 194 của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Lù Seo Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lù Seo Ph 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Seo Ph - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 điều 194 của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HS-ST
Ngày: 20-12-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Khuyên

Bà Hà Thị Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Bích Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Lù Seo Ph (tên gọi khác: không), sinh năm: 1987, tại huyện S, tỉnh Lào Cai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L 1, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Thôn L1, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lù Seo S (SN 1960) và bà Thào Thị D(SN 1959); Bị cáo chung sống như vợ cHng với chị Ly Thị Ch (SN 1981) và có 01 người con tên Lù Seo T (SN 2007); đến năm 2007 bị cáo và chị Ch không chung sống với nhau; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/10/2018; Tạm giam ngày 08/10/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lù Seo Ph do Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên cử: Ông Nguyễn Quang Khai - Luật sư, Cộng tác viên Trung Tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 16/04/2006 bị cáo Lù Seo Ph sang nhà Giàng Seo S ở cùng thôn L1, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai ăn cơm và xem ti vi ở nhà Giàng Seo S, bị cáo Ph nói chuyện với S “có người cậu họ tên là Thào A H nhà ở bản N, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên là em trai con chú ruột của mẹ bị cáo Ph”, cả hai rủ nhau sang Điện Biên chơi. Sáng ngày 17/4/2006 bị cáo Lù Seo Ph cùng Giàng Seo S đi xe khách sang tỉnh Điện Biên, đi đến Km số 0 thuộc huyện M, bị cáo Ph và S xuống xe thuê xe ôm đến Km 45 thuộc xã S, huyện M vào xin nghỉ nhờ nhà người dân. Sáng ngày 18/4/2006 bị cáo Lù Seo Ph và Giàng Seo S thuê xe ôm đi xã N, sau đó đi bộ hỏi thăm tìm vào nhà Thào A H ở bản N, xã H, huyện M. Bị cáo Ph cùng S nghỉ qua đêm tại nhà Thào A H, đến chiều ngày 19/4/2006, Thào A H hỏi bị cáo Ph, S khi nào về Lào Cai, có mua gì về nhà không? S trả lời muốn mua thuốc phiện mang về, sau đó bị cáo Ph và S mỗi người đưa cho Thào A H 700.000đ. Sáng ngày 21/4/2006 Thào A H đi vào bản P, xã H tìm mua được 06 lạng thuốc phiện của một người đàn ông không biết họ, tên tuổi cụ thể, gồm có 03 cục gói trong một túi nilon đựng áo đi mưa, có hai cục bé mỗi cục có khối lượng 01 lạng là của bị cáo Ph và S, cục có khối lượng 04 lạng là của Thào A H. Thào A H bảo bị cáo Lù Seo Ph lấy băng dính trắng quấn bên ngoài 03 cục thuốc phiện, cả 03 người thống nhất chiều cùng ngày sẽ cùng nhau vận chuyển số thuốc phiện vừa mua được sang Lào Cai bán kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Thào A H lấy xe máy của gia đình chở bị cáo Lù Seo Ph và Giàng Seo S, túi thuốc phiện do S cầm, khi đi đến gần Đồn Biên phòng S, Giàng Seo S đưa túi thuốc phiện cho bị cáo Ph cầm và bảo đợi S đi bộ trước kiểm tra xem có Bộ đội Biên phòng làm việc, kiểm tra không? Sau đó cả 3 lên xe máy đi tiếp đến thị xã M khoảng 00 giờ, thấy tổ công tác của Công an thị xã M làm nhiệm vụ đuổi theo, bị cáo Lù Seo Ph bảo Thào A H chạy xe nhanh đi, đồng thời lấy túi thuốc phiện trong túi áo khoác đang mặc vứt xuống rãnh ven đường phía tay phải, đi tiếp khoảng 500 mét thì bị tổ công tác dừng xe để kiểm tra. Sau đó bị cáo Ph, S và H tiếp tục đi khoảng 01 Km thì bị cáo Lù Seo Ph bảo Thào A H dừng xe chờ bị cáo quay lại tìm gói thuốc phiện, quay lại được một đoạn thấy tổ công tác Công an thị xã M quay lại bị cáo Lù Seo Ph chạy xuống bờ sông, trốn về Lào Cai, khoảng bảy ngày sau biết tin Thào A H và Giàng Seo S bị công an bắt, bị cáo Lù Seo Ph trốn vào rừng cho đến khi biết tin bị cơ quan Công an tỉnh Điện Biên ra Quyết định truy nã về tội mua bán trái phép chất ma túy, đầu năm 2008 bị cáo Ph trốn sang huyện H, tỉnh V, Trung Quốc làm thuê, khoảng cuối tháng 9/2018 quay về Việt Nam. Đến ngày 06/10/2018 bị cáo Ph bị bắt theo Quyết định truy nã của Công an tỉnh Điện Biên. Ngày 06/11/2006 Thào A H và Giàng Seo S đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên kết án mỗi người 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ là 0,6 kg thuốc phiện.

Bản kết luận giám định số 373/GĐ-PC21 ngày 19/6/2006 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự - UBND tỉnh Điện Biên kết luận: mẫu vật gửi giám định là thuốc phiện.

Cáo trạng số 66/CT-VKS-P1 ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lù Seo Ph về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lù Seo Ph về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 194 của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lù Seo Ph từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 194 của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành. Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lù Seo Ph nhất trí với cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng; nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.

Trong lời nói sau cùng tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua tranh tụng tại phiên tòa làm rõ ngày 21/4/2006 bị cáo Lù Seo Ph cùng Thào A H và Giàng Seo S mua 0,6kg thuốc phiện của một người nam giới không quen biết tại bản P, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên nhằm mục đích bán tìm kiếm lợi nhuận, đang trên đường vận chuyển từ Điện Biên lên Lào Cai thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt giữ Thào A H và Giàng Seo S; bị cáo Lù Seo Ph bỏ trốn cho đến ngày 06/10/2018 bị bắt theo Quyết định truy nã của Công an tỉnh Điện Biên (BL 10-11). Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc (BL 01); biên bản thu giữ vật chứng (BL 02); biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng (BL 29-30); kết luận giám định (BL 33); phù hợp với lời khai của Thào A H, Giàng Seo S và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định Bị cáo Lù Seo Ph cùng Thào A H và Giàng Seo S mua 0,6kg thuốc phiện nhằm mục đích bán tìm kiếm lợi nhuận. Thào A H và Giàng Seo S đã bị TAND tỉnh Điện Biên xét xử ngày 06/11/2006 về tội mua bán trái phép chất ma túy và kết án mỗi người 07 năm tù, đã đi chấp hành án. Hành vi của bị cáo Lù Seo Ph gây nguy hại rất lớn cho xã hội, phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 điều 194 của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Cáo trạng số 66/CT-VKS-P1 ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lù Seo Ph về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” về tội danh; điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ HĐXX chấp nhận.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội

Bị cáo Lù Seo Ph là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động mua bán các chất ma túy. Hành vi của bị cáo góp phần làm gia tăng các tội phạm về ma túy, là một trong các nguyên nhân gây mất trật tự, an toàn xã hội. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nên buộc bị cáo Lù Seo Ph phải chịu trách nhiệm như Thào A H và Giàng Seo S.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Bị cáo sinh ra và lớn lên trong một gia đình đông anh chị em, cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Bị cáo không có tiền sự, không có tiền án.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện VKSND và Người bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 bị cáo còn phải “bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan Điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có thu nhập thường xuyên, bị cáo thường xuyên sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân và Người bào chữa cho bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản đối với bị cáo là phù hợp HĐXX chấp nhận.

Đối với người nam giới bán thuốc phiện cho bị cáo, quá trình điều tra, không làm rõ tên, tuổi, địa chỉ con người cụ thể, nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án.

Vật chứng vụ án: đã được xử lý trong vụ án xét xử Thào A H và Giàng Seo S tại Bản án số 08/2006/HSST ngày 06/11/2006 của TAND tỉnh Điện Biên, do đó HĐXX không đề cập trong vụ án này.

Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Seo Ph.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm g khoản 2 điều 194 của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Lù Seo Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lù Seo Ph 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2018.

2. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Seo Ph

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Lù Seo Ph có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/12/2018)./.

Cỡ chữ