- Tranh chấp gì? án hình sự — "Siu P vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Siu P phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n HuyÖn i TØnh Gia lai | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 01/2018/HS - ST |
Ngµy: 15/01/2018
Nh©n danh
N¦íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn I tØnh gia lai
- Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Lê Viết Thịnh.
C¸c Héi thÈm nh©n d©n:
Ông Trương Ngọc Huy.
Ông Kpă Lan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện I tham gia phiên Tòa: Ông Hà Văn Chinh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số: 11/2017/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2017/HSST - QĐ ngày 27/12/2017 đối với bị cáo:
Siu P, sinh ngày 20/7/1997, tại Gia Lai.
Trú tại: Tổ 3, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Ja rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Kpă Đ, sinh năm 1973 và bà: Siu H’ N, sinh năm 1975; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 26/5/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
- Người bị hại: Anh Siu H, sinh năm 1998 ( Đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại Siu H: Bà Siu H’ M, sinh năm 1963.(Mẹ của người bị hại Siu H). Có mặt.
Ông: Rcom Y, sinh năm 1963.(Bố của người bị hại Siu H). Vắng mặt.
Đều trú tại: Tổ 8, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Ông Rcom Y ủy quyền cho bà Siu H’ M tham gia tố tụng và quyết định tất cả những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. (Văn bản ủy quyền ngày 20/3/2017).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Việt N, sinh năm1970
Trú tại: Số nhà 13, đường K, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1974.
Trú tại: 70/3 Khu phố 2, phường Đ, quận 12, thành phố H. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1953.
Trú tại: Tổ 3, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Bà Siu H’ N, sinh năm 1965
Trú tại: Tổ 3, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Việt T, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993.Vắng mặt.
-Người phiên dịch: Bà Ksor H’ B - người dân tộc Jarai phiên dịch tiếng jarai cho những người tham gia tố tụng là người dân tộc Jarai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 18 tháng 3 năm 2017, Siu P, Siu H cùng với Nguyễn Văn L ăn nhậu tại Quảng trường thị xã A, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày Siu P, Siu H và Nguyễn Văn L rủ nhau đi đến xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai chơi. Khi đi Siu P điều khiển xe mô tô biển số 81P4-19XX chở Siu H, còn Nguyễn Văn L đi xe mô tô (không nhớ biển số) một mình, cùng lưu thông trên đường liên xã phía Đông Sông Ba, huyện I theo hướng từ thị xã A đi xã I, huyện I, khi đi đến đoạn đường thuộc Thôn Ia , xã I, huyện I thì Siu P phát hiện phía trước có xe ô tô đầu kéo biển số 51C-505.XX và Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R-092.XX do anh Nguyễn Việt N điều khiển đi cùng chiều, nên Siu P tăng ga xe mình đi về phía bên trái đường (theo hướng đi của P) để vượt xe ô tô do anh N điều khiển, nhưng do lúc này Siu P điều khiển cho xe chạy với vận tốc nhanh khi vừa qua được trục 1 của Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R-092.XX thì không làm chủ được tay lái nên làm xe tự ngã xuống đường. Hậu quả, xe mô tô ngã đổ ra lề đường, Siu P ngã văng qua lề đường bên trái bị thương nhẹ, còn Siu H ngã xuống mặt đường làm bánh trước trục 1 bên trái của Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R-092.XX đè lên người và bị chết tại hiện trường.
Sau khi xảy ra tai nạn, các Cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường được xác định như sau:
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra trên đường liên xã Ia B đi xã Ia T, thuộc địa phận thôn Ia R, xã Ia B, huyện I, tỉnh Gia Lai; mặt đường làm bằng bê tông xi măng, rộng 3,52m; lề đường trái rộng 2,5m; lề đường phải rộng 1,7m (theo hướng đi từ xã Ia B đi xã Ia T, huyện I). Quá trình khám nghiệm, tất cả các dấu vết, trục xe đều được đo về mép đường bên trái theo hướng đi từ xã Ia B, huyện I đi xã Ia T, huyện I, tỉnh Gia Lai phát hiện:
- (1) Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-505.xx nằm ở phần đường bên phải theo hướng đi từ xã Ia B đi xã Ia T, huyện I; đầu xe hướng xã Ia T, huyện I, đuôi xe hướng xã Ia B, huyện I; tâm trục bánh xe 1 bên trái của của phần đầu kéo cách mép đường 1,6m; tâm trục bánh xe 2 bên trái của phần đầu kéo cách mép đường 1,82m; tâm trục bánh xe 3 bên trái của phần đầu kéo cách mép đường 1,85m.Tâm trục bánh xe 1 bên trái của Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R-092.xx nằm đè lên người chết (2) cách mép đường 1,6m; tâm trục bánh xe 2 của Sơ mi rơ móoc tải bên trái cách mép đường 1,55m;tâm trục bánh xe 3 của Sơ mi rơ móoc tải bên trái cách mép đường 1,55m và cách tâm trục trước của xe mô tô biển số 81P4-19xx (5) là 29m.
- (2) Người chết nằm dưới trục bánh xe 1 của Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R-092.xx, đã bị biến dạng không rõ hình, người chết cách mép đường 1,63m và cách tâm trục trước của bánh xe mô tô biển số 81P4-1903 (5) là 32m.
- (3) Vết chà có màu nâu đỏ dài 27,4m, rộng 0,6m, có chiều hướng từ xã Ia B, huyện I đi xã Ia T, huyện I, đầu vết cách mép đường 1,25m, điểm cong nhất cách mép đường 1,55m, đuôi vết tiếp giáp với mép lốp trục 1 của Sơ mi rơ móoc tải và cách mép đường 1,6m.
- (4) Vết chà đứt quãng dài 3,55m, rộng 0,02m có chiều hướng từ xã Ia Broái, huyện Ia Pa đi xã Ia Tul, huyện Ia Pa; đầu vết cách mép đường 0,3m và cách tâm trục sau của xe mô tô biển số 81P4-1903 (5) là 2m; cuối vết cách mép đường 0,6m và cách đầu của vết (3) là 4,05m
- (5)Xe mô tô biển số 81P4-19xx ngã nghiêng bên trái theo hướng người điều khiển; nằm ở lề đường bên trái theo hướng đi từ xã Ia B, huyện I đi xã Ia T, huyện I, đầu xe hướng xã Ia T, đuôi xe hướng xã Ia B; tâm trục bánh trước cách mép đường 0,95m; tâm trục bánh sau cách mép đường 0,85m và cách điểm mốc trụ điện thoại số 203 là 9,80m.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn:
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-505.xx có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030822, tên chủ xe Công ty cổ phần N, màu sơn vàng, nhãn hiệu CNHTC, loại xe đầu kéo, số máy 141007012677, số khung LSB2EA031300,xe dài 6,985m, rộng 2,5m, cao 3,95m, quá trình khám nghiệm xe không phát hiện các dấu vết liên quan đến tai nạn giao thông.
Kết luận giám định kỹ thuật ngày 03/4/2017, kết luận xe đầu kéo biển số 51C-505.xx, trong thời gian giám định đảm bảo an toàn kỹ thuật.
- Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R-092.xx có giấy chứng nhận đăng ký Sơ mi rơ móoc số 001412, tên chủ xe Công ty cổ phần Ng, màu sơn xanh, nhãn hiệu CIMC, số khung 3383EN030689, xe dài 12,37m, rộng 2,5m, cao 1,56m; mép trong lốp ngoài trục I bên trái người điều khiển phương tiện Sơ mi rơ móc có vết bám dính chất nhầy màu nâu diện (15x20)cm, có điểm gần nhất cách cụm từ HAWK là 12cm; mép ngoài lốp trong trục I bên trái người điều khiển loại phương tiệnsơ mi rơ móc tải có vết bám dính chất nhầy màu nâu diện (20x50)cm có điểm gần nhất cách cụm từ HK701 là 44cm.
Tại bản Kết luận giám định kỹ thuật ngày 03/4/2017, kết luận Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R-092.xx, trong thời gian giám định đảm bảo an toàn kỹ thuật.
- Xe mô tô biển số 81P4-19xx, có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 002176, tên chủ xe Hồ Thị Diễm L, màu sơn nâu, nhãn hiệu DREAM, số máy G10033397, số khung MG000795; đầu xe bị bẻ quặt cố định từ trước ra sau, từ trái qua phải so với vị trí ban đầu 90 độ; ốp nhựa bên hông phải bị bung ra khỏi vị trí định vị ban đầu; cần đạp thắng sau bị đẩy cong lệch khỏi vị trí ban đầu theo hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên lệch so với vị trí ban đầu 90 độ, mép ngoài phía trước có vết chà xước kim loại trắng bạc diện (17x1,5)cm theo hướng từ trước ra sau; gác chân trước bên phải bị đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu theo hướng từ trước ra sau 04cm, mép ngoài phía trước phần đầu núm cao su và kim loại có vết chà mòn cao su và kim loại màu đen bạc diện (3x2)cm theo hướng từ trước ra sau; gác chân sau mép ngoài phía bên phải phía trên bị chà mòn cao su diện (2x1)cm, mép ngoài phía trước bên phải nắm tay cầm lái có vết chà xước kim loại diện (3x1,5)cm theo hướng từ trên xuống dưới có điểm gần nhất cách ốc cố định phục nhún bên phải 06cm.
Tại bản giám định pháp y số 214/TTPY ngày 19/3/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận Siu H bị chết do “Vỡ sọ+Đa gãy xương do tai nạn giao thông”.
Tại bản cáo trạng số: 11/CTr – VKS ngày 02/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai truy tố Siu P về tội: “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Siu P phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 202; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Siu P từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 26/5/2017.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa bị cáo Siu P và người đại diện hợp pháp cho người bị hại Siu H là bà Siu H’ M đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc bị cáo Siu P bồi thường tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần tổng cộng là 30.000.000đồng. Bị cáo Siu P đã bồi thường được 1.700.000đồng. Số tiền còn lại là 28.300.000đồng bị cáo Siu P và người đại diện hợp pháp cho người bị hại Siu H là bà Siu H’ M đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo Siu P tiếp tục bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật dân sự; Điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận này.
Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ và bà Siu H’ N chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81P4-19xx.
Tại phiên Tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Nhất trí nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức thấp nhất bởi vì sự việc xảy ra do rủi ro, ngoài ý muốn của bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên Tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Tại phiên Tòa bị cáo Siu P khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường và lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác, như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 18/3/2017, Siu P ( không có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô biển số 81P4 – 19xx chở Siu H ngồi sau, đi trên đường liên xã phía đông Sông Pa, huyện I theo hướng từ thị xã A đi xã Ia T, huyện I, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Ia R, xã Ia B, huyện I thì Siu P phát hiện phía trước có xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 505.xx và Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R – 092.xx do anh Nguyễn Việt N điều khiển đi cùng chiều, nên Siu P điều khiển cho xe của mình đi về phía bên trái đường (theo hướng đi của P) để vượt xe ô tô do anh N điều khiển, nhưng do Siu P điều khiển xe mô tô chạy nhanh, vượt xe lưu thông cùng chiều sai quy định, không làm chủ được tay lái dẫn đến tự ngã. Hậu quả, Siu H bị ngã xuống mặt đường làm bánh trước trục 1 bên trái của Sơ mi rơ móoc tải biển số 51R - 092.xx đè lên người và bị chết tại hiện trường. Khi điều khiển xe mô tô biển số 81P4 - 19xx tham gia giao thông bị cáo Siu P đang trong tình trạng đã sử dụng bia rượu. Ngay sau khi xảy ra tai nạn, lực lượng Cảnh sát giao thông công an huyện I đã đo được nồng độ cồn trong hơi thở của Siu P là 1,511miligam/1 lít khí thở, vượt mức quy định là 0.25 miligam/1 lít khí thở. Tại thời điểm xảy ra tai nạn bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 81P4 – 19xx có dung tích xi lanh là 97cm3 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” với tình tiết định khung tăng nặng “Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định”; “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của con người, tước đi mạng sống của anh Siu H, gây tổn thất không gì bù đắp được cho gia đình người bị hại. Gây tác động xấu đến trật tự an toàn chung tại địa phương. Vì vậy, cần nghiêm trị để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường được số tiền là 1.700.000đồng cho gia đình người bị hại. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 bộ luật hình sự năm 1999 là phù hợp.
Trong vụ án này đối với Nguyễn Việt N, người điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 505.xx và Sơ mi rơ moóc tải biển số 51R – 092.xx đi đúng phần đường theo quy định nhưng do Siu P điều khiển xe mô tô vượt sai quy định dẫn đến tự gây tai nạn làm Siu Hưng ngã xuống đường nên bánh trước trục 1 bên trái của Sơ mi rơ mooc tải biển số 51R – 092.xx đè lên người làm H tử vong. Xét thấy, việc Siu H chết không do lỗi của anh Nguyễn Việt N. Vì vậy. Cơ quan điều tra không sử lý hình sự đối với anh N là đúng quy định của pháp luật.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả Nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về đề nghị của bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức hình phạt thấp nhất do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên Tòa.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện I, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện I, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Siu P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Siu P phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 điều 202; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: Bị cáo Siu P 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 26/5/2017.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật dân sự; Điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bị cáo Siu P và người đại diện hợp pháp cho người bị hại Siu H là bà Siu H’ M ngày 31/7/2017: Bị cáo Siu P phải tiếp tục bồi thường cho gia đình người bị hại Siu H do bà Siu H’ M đại diện về các khoản tiền chi phí mai táng và tổn thất về tinh thần tổng cộng là 28.300.000đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ và bà Siu H’ N chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81P4-19xx. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2017 giữa Công an huyện I và Chi cục Thi hành án dân sự huyện I).
2.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Siu P phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 11/01/2018). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án công khai. Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo/ những người tham gia tố tụng; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa; - Công an huyện IaPa; - Chi cục THADS huyện Ia Pa; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Đã ký Lê Viết Thịnh |