vanban.org

Bản án 01/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 16/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo H’Đơk H (tên gọi khác là B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo H’đơk H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 02/8/2017. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H’Đơk H phải bồi thường thiệt hại cho ông Trịnh Trí H số tiền: 7.065.000 đồng, được khấu trừ số tiền 2.400.000đ gia đình bị cáo đã nộp t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H’đơk H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo H’Đơk H (tên gọi khác là B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HS-ST
Ngày 16 tháng 01 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Quang Hoàng

2/ Ông Phạm Hồng Sơn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hữu Soái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2018 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2017/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2017/QĐXXST - HS ngày 18/12/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2018/HSST-QĐ ngày 02/01/2018 đối với bị cáo:

H’đơk H (tên gọi khác: B), sinh ngày 17/5/1980 tại huyện K, Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn D, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Êđê ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y B H’đơk, sinh năm 1956 và bà Trần Thị H, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là H’W Byă, sinh năm 1978, có hai con, con lớn nhất 19 tuổi, con nhỏ nhất 15 tuổi;

Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 22/02/2006, bị TAND tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội trộm cắp tài sản. Ngày 05/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 13/01/2011 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống.

Bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Phương L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ: Đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt)

Bị hại: Ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1960; ông Trịnh Trí H, sinh năm 1962, (đều có mặt)

Cùng cư trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, Đắk Lắk.

- Ông Lưu Vũ S, sinh năm 1965, bà Phạm Thị T, sinh năm 1971 (đều vắng

mặt), cư trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Cư trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

Ông Mai Khắc S1, sinh năm 1949 (có mặt).

Cư trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

Ông Y B, sinh năm 1963 (vắng mặt) và ông Đinh Văn T1, sinh năm 1958 (có mặt).

Cùng cư trú tại: Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Ông Trần Văn D, sinh năm 1961, có mặt.

Cư trú tại: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần H1, sinh năm 1972; ông Nguyễn Công S2, sinh năm 1975; ông

Hồ Sỹ M11, sinh năm 1968; ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979; ông

Phan Văn D1, sinh năm 1978 (đều có mặt) ông Hồ Sỹ P, sinh năm 1972

(vắng mặt)

Cùng cư trú tại: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

- Ông Trần Văn O, sinh năm 1969 (có mặt)

Cư trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

- Ông Nguyễn Văn S3, sinh năm 1975 (có mặt).

Cư trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18h00’ ngày 31/7/2017, H’đơk H điều khiển xe máy nhãn hiệu Sirius, biển số 47T1-061.60 và mang theo 01 cái kìm đến khu vực rẫy cà phê tại thôn T, xã E, huyện K tìm các chòi rẫy không có ai trông coi để trộm cắp tài sản. Khi đến rẫy cà phê của ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1960, trú tại thôn T, xã E, huyện K phát hiện chòi canh rẫy của ông Đ khóa bên trong, không có ai trông coi nên H’đơk H dùng kìm bẻ khuy khóa mở cửa rồi đi vào trong chòi lấy 01 cùm kim loại để phân nhánh nước hình chữ Y, 01 bình phun thuốc trừ sâu bằng điện màu vàng hiệu Việt Hàn mang đến chỗ để xe máy cất giấu. Sau đó H Đơk H tiếp tục đến chòi rẫy của ông Lưu Vũ S, sinh năm 1965, trú tại thôn T, xã E, huyện K cách chòi của ông Đ khoảng 50 mét rồi dùng kìm cắt khuy khóa cửa vào trong chòi lấy trộm 01 bình xịt thuốc sâu bằng điện màu vàng hiệu Dolping, 01 dàn phun thuốc trừ sâu (gồm 01 mô tơ và hệ thống bơm), 01 máy cắt cỏ màu vàng, 01 vòi phun thuốc sâu (thường gọi là súng xịt thuốc sâu). Sau đó H’Đơk H dùng xe máy chở tài sản lấy trộm được về nhà cất giấu. Khoảng 20h30’ ngày 31/7/2017, H’Đơk H gọi điện cho ông Trần H1, sinh năm 1972, trú tại thôn E, xã E hỏi ông H1 có mua máy phun thuốc trừ sâu không, ông H1 đồng ý và đến nhà H’đơk H để xem tài sản. Hai bên thống nhất giá là 1.500.000đ, sau đó H’đơk H bớt cho ông H 100.000đ, khi mua bán ông H1 không biết được những tài sản trên do H’đơk H phạm tội mà có.

Quá trình điều tra, H’đơk H khai nhận trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 7/2017 còn thực hiện 09 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn hai xã E và D, huyện K. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 4/2015, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Dream do H’đơk H mua (xe không rõ biển kiểm soát) và mang theo kéo cắt cành, đến rẫy tiêu ở thôn T, xã E của gia đình bà Đỗ Thị M, quan sát thấy không có người nên H’đơk H quay trục quay có sẵn trên miệng giếng khoan kéo máy bơm (loại hỏa tiễn màu bạc, nhãn hiệu Sagopum, phần điện có model SG553, seri M0929835, phần quạt có model SG14-18, seri G0929639, loại bơm 3 pha 4Kw; 5,5 mã lực), dây điện, dây cáp và ống nước lên mặt đất. H’đơk H dùng kéo cắt đầu dây điện ba pha gắn với máy bơm, mở nút buộc dây cáp cột ở đầu máy bơm, tháo đầu ống tưới nước gắn với máy bơm rồi vác máy bơm ra xe máy chở về nhà cất giấu. Khoảng tháng 5/2016 thì H’đơk H đem bán máy bơm hỏa tiễn trên cho Nguyễn Công S2, sinh năm 1975, HKTT: xóm 2, thôn E, xã E, huyện K với giá 4.000.000đ. Quá trình mua bán, ông S2 không biết tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ hai: Với thủ đoạn như trên, vào khoảng 7/2016, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius, biển kiểm soát 47T1-055.69 đến rẫy cà phê của gia đình ông Y B Bkrông ở buôn K, xã D. Đến nơi, H’đơk H đi lại giếng khoan, dùng tay kéo dây cáp nối với máy bơm ở dưới giếng khoan lên (loại hỏa tiễn ruột nhỏ màu bạc, nhãn hiệu Powel model QJD 1.5 601208 dài 01m30, đường kính đầu phần điện 06cm). H’đơk H tháo ống nước ra khỏi máy bơm, dùng kéo cắt đầu dây điện, tháo dây cáp gắn với máy bơm rồi vác máy bơm ra xe chở về nhà cất dấu. Tháng 2/2017, H’đơk H đem bán máy bơm trên cho ông Hồ Sỹ M1, nhà ở thôn E, xã E, huyện K với giá 700.000đ. Quá trình mua bán, ông M1 không biết tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ ba: Vào tối ngày 11/8/2016, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius biển kiểm soát 47T1-055.69 đến nhà ông Trịnh Chí H, sinh năm 1962, trú tại thôn T, xã E. H’đơk H dùng trục quay kéo lên lấy 01 máy bơm (loại hỏa tiễn màu bạc, nhãn hiệu Daphovina 3 pha, 05 mã lực). H’đơk H tháo dây cáp buộc vào máy bơm, dùng kéo cắt cắt hai đầu dây điện nối với máy bơm và cầu dao, tháo ống nước. Sau đó, H’đơk H lấy một bao tải (loại bao đựng phân ở gần đó) bỏ hết 100m dây điện loại ba pha màu đen vào trong rồi vác bao cùng máy bơm đưa ra xe, chở những tài sản trên về nhà cất giấu. Khoảng tháng 11/2016, H’đơk H bán những tài sản lấy trộm nói trên cho ông Nguyễn Văn S3, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã E được 1.500.000đ. Sau khi mua xong thì ông S3 đã bán những tài sản đó cho một người buôn bán nhôm nhựa nhưng ông S3 không biết người đó tên gì, ở đâu. Quá trình mua bán, ông S3 không biết những tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ tư: Vào khoảng tháng 9/2016, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius, biển kiểm soát 47T1- 055.69 đến rẫy cà phê của gia đình ông Y B Bkrông, tại buôn K, xã D, huyện K, dùng tay kéo dây cáp nối với máy bơm ở dưới giếng lên lấy một máy bơm (loại hỏa tiễn màu bạc, nhãn hiệu NIKKOL, model 2014, số máy 1606151990, công suất 1,1kw, 1,5 mã lực dài 01m20, đường kính đầu phần điện 10cm). Sau đó H’đơk H tháo ống nước ra khỏi máy bơm, dùng kéo cắt đầu dây điện ra khỏi máy bơm, tháo dây cáp buộc vào máy bơm rồi vác máy bơm ra xe chở về nhà cất dấu. Khoảng một tháng sau, H’đơk H đem bán máy bơm trên cho ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979, trú tại thôn E, xã E, huyện K với giá 800.000đ. Quá trình mua bán, ông T2 không biết tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ năm: Vào khoảng tháng 12/2016, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius biển kiểm soát 47T1-055.69 đến rẫy của gia đình ông Đinh Văn T1, tại buôn K, xã D, huyện K. H’đơk H dùng kìm bẻ khóa miệng giếng rồi kéo máy bơm nước từ dưới giếng lên (loại hỏa tiễn màu bạc, Zipum 1 pha 1,1kw, 1,5 mã lực, model zp 15109, số máy mz55217). Sau đó H’đơk H dùng kéo cắt dây điện gắn với máy bơm và đầu dây điện nối với nguồn, tháo dây cáp và ống nước khỏi máy bơm rồi lấy máy bơm cùng dây điện màu đen dài khoảng 30m; dây cáp lõi bằng kim loại, bên ngoài bọc nhựa dài 30m đem ra xe chở về nhà cất giấu. Khoảng tháng 02/2017, H’đơk H đem bán những tài sản trên cho ông Hồ Sỹ P, sinh năm 1972, HKTT: thôn E, xã E, huyện K với giá 1.800.000đ. Quá trình mua bán, ông P không biết những tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ sáu: Vào khoảng đầu tháng 4/2017, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius, biển kiểm soát 47E1-061.60 đến rẫy tiêu của gia đình bà Phạm Thị T ở thôn T, xã E. Đến nơi, H’đơk H đi lại giếng khoan, dùng kìm bẻ tai khóa, mở miệng giếng rồi dùng trục tời quay lên được một máy bơm hỏa tiễn (hiệu Galaxy màu bạc 2,2kw, 03 mã lực, phần điện có model 4GLX303, số máy M0020521, phần quạt có model 4GLX-8/18, số máy G0010922). Sau đó, H’đơk H tháo ống nước, dây điện và dây cáp được nối với máy bơm, dùng tay kéo rời đầu dây điện gắn với cầu dao. Bỏ dây điện 3 pha vỏ màu sữa dài 27m vào trong bao tải (loại bao đựng phân) rồi vác bao và máy bơm ra xe chở về nhà cất giấu. Tháng 6/2017, H’đơk H đem bán những tài sản nói trên cho ông Trần Văn O, nhà ở thôn T, xã E, huyện K với giá 1.800.000đ. Quá trình mua bán, ông O không biết những tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ bảy: Vào tối ngày 11/4/2017, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius biển kiểm soát 47E1-061.60 đế rẫy cà phê của gia đình ông Mai Khắc S1, sinh năm 1949, trú tại thôn T, xã E. H’đơk H dùng kìm bẻ khóa mở cửa vào trong chòi, dùng tay lật nắp bêtông đậy trên miệng giếng khoan (giếng khoan nằm trong chòi) lên. Sau đó, H’đơk H dùng trục tay quay và quay dưới giếng lên được một máy bơm nước (loại hỏa tiễn màu bạc, dài 2,4m, đường kính 10cm, hiệu DAPHOVINA, phần điện có số seri 153141, phần quạt có số seri 153141). H’đơk H dùng kéo cắt dây điện nối với máy bơm và cầu dao, tháo dây cáp và ống nước nối với máy bơm rồi lấy bao tải (loại bao đựng phân) có trong chòi bỏ dây điện 3 pha vỏ màu đen dài khoảng 60m vào trong rồi lần lượt đưa bao đựng dây điện, máy bơm hỏa tiễn và lấy một hộp actomat cao khoảng 45cm, rộng khoảng 25cm, dày khoảng 20cm, bên trong hộp actomat có một cục chống mất pha trong chòi ra ngoài đường đi rồi dùng xe máy chở về nhà cất giấu, trên đường đi thì rớt mất hộp actomat. Khoảng tháng 7/2017, H’đơk H đem bán những tài sản lấy trộm trên cho ông Trần Văn O, ở thôn T, xã E, huyện K với giá 3.800.000đ. Quá trình mua bán, ông O không biết những tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ tám: Vào khoảng cuối tháng 4/2017, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius, biển kiểm soát 47E1-061.60 đi đến rẫy cà phê của gia đình ông Trần Văn D, trú tại thôn E, xã E, huyện K. Đến nơi H’đơk H lấy trục quay lắp vào vị trí trục quay trên miệng giếng, buộc dây cáp vào và quay kéo lên được một máy bơm (loại hỏa tiễn màu bạc hiệu Galaxy, phần điện có model 4GLX-8/23, seri G0034266, dài 1.78m, đầu phần điện có đường kính 10cm). Sau đó H’đơk H dùng kéo cắt dây điện nối với máy bơm và đầu nối với nguồn, tháo dây cáp, ống nước nối với máy bơm. H’đơk H lấy bao tải có ở trong rẫy, bỏ hết cuộn dây điện vỏ màu đen dài khoảng 90m vào trong bao rồi kéo bao và vác máy bơm hỏa tiễn ra đường bờ lô, lấy xe chở những tài sản lấy trộm được về nhà để cất giấu. Khoảng gần một tháng sau, H’đơk H đem bán những tài sản lấy trộm trên cho ông Phan Văn D1, sinh năm 1968, trú tại thôn E, xã E với giá 2.000.000đ. Quá trình mua bán ông D1 không biết những tài sản đó do H’đơk H trộm cắp mà có.

Vụ thứ 9: Vào khoảng 21h00’ ngày 28/7/2017, H’đơk H điều khiển xe máy hiệu Sirius biển kiểm soát 47E1- 061.60 đến rẫy mía của gia đình ông Đinh Văn T1, trú tại buôn K, xã D, huyện K. Đến nơi, H’đơk H đi lại vị trí giếng khoan, dùng tay kéo dây cáp lên được một máy bơm (loại hỏa tiễn màu bạc, nhãn hiệu Goldsun, model Gs2012, số máy 02015226) cùng ống nước và dây điện. H’đơk H dùng kéo cắt hai đầu dây điện, cắt đầu ống tưới nước gắn với đầu máy bơm và tháo dây cáp rồi lấy một cái bao (loại bao đựng phân ở gần đó) bỏ hết dây điện vỏ màu đen, dài khoảng 23m, dây cáp lõi bằng kim loại bên ngoài bọc nhựa dài khoảng 23m vào trong bao, sau đó H’đơk H vác bao và máy bơm hỏa tiễn ra xe rồi chở về nhà cất giấu.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 76 ngày 02/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 01 mô tơ 1 pha 2,2kw hiệu VCD Thành Vinh, màu xám bạc gắn với máy phun thủy lực 01 kw hiệu DEGUANG màu đỏ; 01 máy cắt cỏ hiệu STIHL-FS21 màu vàng cam; 01 bình phun thuốc sâu xạc bằng điện màu vàng hiệu Dolping; 01 bình phun thuốc sâu xạc bằng điện màu vàng hiệu Việt Hàn; 01 cùm kim loại phân nhánh nước hình chữ Y loại hai khóa; 01 vòi phun thuốc sâu (thường gọi là súng xịt thuốc sâu) có tổng trị giá là: 5.530.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 92 ngày 19/9/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Daphovina 03 pha 05kw, 07 mã lực; 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Zipum 01 pha 1,1Kw, 1,5 mã lực; 01 máy bơm hỏa tiễn loại ruột nhỏ 01 pha 1,5Kw, 02 mã lực; 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Goldsun 01pha 1,5Kw, 02 mã lực; 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Galaxy 03 pha 2,2Kw, 03 mã lực; 01 máy bơm loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Sagopum, loại 3 pha 4Kw, 5,5 mã lực; 01 máy bơm loại hỏa tiễn, nhãn hiệu NIKKOL 1,1Kw, 1,5 mã lực; 01 máy bơm loại hỏa tiễn hiệu Galaxy 03 pha 3Kw, 04 mã lực; 01 máy bơm loại hỏa tiễn hiệu DAPHOVINA 3 pha 3Kw, 05 mã lực. 01 dây điện 3 pha màu đen, dài 30m; 01 dây cáp lõi bằng kim loại, bên ngoài bọc nhựa dài 30m; 01 dây điện 3 pha màu đen, dài 23m; 01 dây cáp lõi kim loại, ngoài bọc nhựa, dài 23m; 01 dây điện 3 pha màu sữa, dài 27m; 01 dây điện 3 pha màu đen, dài 90m; 01 dây điện 3 pha vỏ ngoài màu đen, dài 60m; 01 dây điện 3 pha võ màu đen, dài 100m; 01 hộp Actomat. Với tổng trị giá tài sản là: 34.565.000 đồng.

Cáo trạng số 27/KSĐT-HS ngày 16/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Hđơk H về tội “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2015 đến ngày 31/7/2017 bị cáo đã thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn xã E và D đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana đã nêu.

Ông Trịnh Trí H khai ông bị mất 01 máy bơm hỏa tiễn nhãn hiệu DAPHOVINA, 03kw, 05 mã lực và 100m dây điện loại ba pha màu đen, đến nay tài sản không thu hồi được nên ông yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho ông số tiền 7.065.000đ; ông Mai Khắc S1 bị mất 01 hộp actomat cao khoảng 45cm, rộng khoảng 25cm, dày khoảng 20cm, bên trong hộp actomat có một cục chống mất pha, không thu hồi được, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền theo định giá là 1.760.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2015 đến 31 tháng 7 năm 2017 bị cáo đã thực hiện 10 vụ trộm cắp là phạm tội nhiều lần. Tuy bị cáo không có tiền án, nhưng có nhân thân xấu, hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 của BLHS năm 1999, nay được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Quá trình điều tra bị cáo đã khai ra các vụ trộm cắp trước đó, giúp cho Cơ quan điều tra thu hồi tài sản trả cho người bị hại, đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình nộp số tiền 3.000.000đ tại Chi cục THADS đề bồi thường thiệt hại cho người bị hại. VKSND huyện Krông Ana giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo H’đơk H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm a, b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp:

- Về trách nhiệm dân sự: Các ông, bà Đỗ Thị M, Y B Bkrông, Đinh Văn T1, Phạm Thị T, Trần Văn D, Trần Quốc Đ, Lưu Vũ S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý.

- H’đơk H phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Trịnh Trí H: 01 máy bơm hỏa tiễn nhãn hiệu DAPHOVINA, 05 mã lực và 100m dây điện loại ba pha màu đen, với trị giá là 7.065.000 đồng; Bồi thường cho ông Mai Khắc S1 01 hộp actomat cao khoảng 45cm, rộng khoảng 25cm, dày khoảng 20cm, bên trong hộp actomat có một cục chống mất pha, với trị giá là 1.760.000 đồng.

Buộc bị cáo H’đơk H có trách nhiệm phải trả lại cho ông Hồ Sỹ P 1.800.000đ. Ghi nhận việc các ông Nguyễn Công S2, Hồ Sỹ M1; Nguyễn Văn T2; Trần Văn O, Phan Văn D1, Trần H1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mua bán tài sản.

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Ana trả lại cho: Ông Trần Quốc Đ; 01 bình phun thuốc sâu xạc bằng điện màu vàng, hiệu Việt Hàn; 01 cùm kim loại phân nhánh nước hình chữ Y loại hai khóa; gia đình ông Lưu Vũ S 01 mô tơ 1 pha 2,2kw hiệu VCD Thành Vinh, màu xám bạc gắn với máy phun thủy lực 01 kw hiệu DEGUANG màu đỏ; 01 máy cắt cỏ hiệu STIHL-FS21 màu vàng cam; 01 bình phun thuốc sâu xạc bằng điện màu vàng hiệu Dolping, 01 vòi phun thuốc sâu (thường gọi là súng xịt thuốc sâu); bà Đỗ Thị M 01 máy bơm loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Sagopum, loại 3 pha 4Kw, 5,5 mã lực; ông Y B BKrông của 01 máy bơm hỏa tiễn loại ruột nhỏ, hiệu Powel 01 pha 1,5Kw, 02 mã lực, 01 máy bơm loại hỏa tiễn, nhãn hiệu NIKKOL 1,1Kw, 1,5 mã lực; ông Đinh Văn T1 01 máy bơm hỏa tiển hiệu Zipum 01 pha 1,1Kw, 1,5 mã lực, 01 dây điện màu đen, dài 30m, 01 dây cáp lõi bằng kim loại, bên ngoài bọc nhựa dài 30m, 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Goldsun 01pha 1,5kw, 02 mã lực, 01 dây điện màu đen, dài 23m; 01 dây cáp lõi kim loại, ngoài bọc nhựa, dài 23m; ông Mai Khắc S1 01 máy bơm hỏa tiển hiệu Daphovina 03 pha 05kw, 07 mã lực, 01 dây điện 3 pha vỏ ngoài màu đen, dài 60m; gia đình bà Phạm Thị T 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Galaxy 03 pha 2,2kw, 03 mã lực, 01 dây điện 3 pha màu sữa, dài 27m, 01 cái cuốc lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ dài 1m; gia đình ông Trần Văn D 01 máy bơm loại hỏa tiễn hiệu Galaxy 03 pha 3kw, 04 mã lực, 01 dây điện 3 pha màu đen, dài 90m tại Quyết định xử lý vật chứng số 13 ngày 19/10/2017.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cái kìm bằng kim loại (kìm chết); 01 kéo cắt cành bằng kim loại hai đầu tay cầm bọc vỏ nhựa màu đỏ.

Người bào chữa cho bị cáo bà Trần Thị Phương L trình bày: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng việc VKSND huyện truy tố đối với bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, nay được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015 là phù hợp nên thống nhất về tội danh.

Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Sau khi phạm tội đã tự nguyện khai báo ra những hành vi phạm tội trước đó giúp cơ quan pháp lụât xử lý nhanh vụ án, thu hồi tài sản trả lại cho những người bị hại, tài sản bị chiếm đọat có gia trị không lớn, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trong thời gian tạm giam đã tác động gia đình nộp tiền tại Cơ quan thi hành án để bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm a, b, r, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất giúp bị cáo yêu tâm cải tạo, sớm được trở về đoàn tụ với gia đình và hòa nhập xã hội.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, trở thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2015 đến ngày 31 tháng 7 năm 2017 bị cáo H’đơk H đã thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã E và xã D huyện K. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 40.095.000đ, tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo đã thành niên có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, nay được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 quy định “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đọat tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều từ 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và điều 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, nay được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 để xét xử là phù hợp quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của nhiều bị hại trên địa bàn xã E và xã D, huyện K gây mất ổn định trị an xã hội, lo lắng trong nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc phải biết tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đều bị pháp luật nghiêm trị, nhưng do xuất phát từ động cơ tham lam, tư lợi cá nhân, bản chất lười lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Về nhân thân ngày 22/02/2006, bị TAND tỉnh Đăk Lăk xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, về tội trộm cắp tài sản. Ngày 05/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích). Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo mình trở thành công dân tốt, mà tiếp tục phạm tội, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Từ tháng 4 năm 2015 đến ngày 31/7/2017 bị cáo đã 10 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong đó có 08 lần trộm cắp tài sản có trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên, thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm a, b, r, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. HĐXX xét thấy bị cáo không ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 nên không chấp nhận cho bị cáo hưởng tình tiết này. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự khai ra những hành vi phạm tội trước đó được coi là tự thú, đã tác động gia đình nộp số tiền 3.000.000đ để bồi thường cho người bị hại, phần lớn tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 khi quyết định hình phạt, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về đoàn tụ với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội.

Đối với các ông Nguyễn Công S2, Nguyễn Văn S3, Hồ Sỹ M1, Nguyễn Văn T2, Hồ Sỹ P, Trần Văn O, Phan Văn D1, Trần H1 khi mua tài sản của H’đơk H đều không biết được những tài sản đó do H’đơk H phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS 2015; Các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc H’Đơk H phải bồi thường thiệt hại cho ông Trịnh Trí H: 01 máy bơm hỏa tiễn nhãn hiệu ĐAPHOVINA, 05 mã lực và 100m dây điện loại ba pha màu đen, với trị giá là 7.065.000 đồng; Bồi thường cho ông Mai Khắc S1 01 hộp actomat cao khoảng 45cm, rộng khoảng 25cm, dày khoảng 20cm, bên trong hộp actomat có một cục chống mất pha, với trị giá là 1.760.000 đồng. Buộc bị cáo H’đơk H có trách nhiệm phải trả lại cho Hồ Sỹ P 1.800.000 đồng.

Các ông Nguyễn Công S2, Nguyễn Văn S3, Hồ Sỹ M1, Nguyễn Văn T2, Trần Văn O, Phan Văn D1, Trần H1 không yêu bị cáo phải trả lại tiền mua bán tài sản nên không xem xét giải quyết.

Các ông, bà Đỗ Thị M, Y B Bkrông, Đinh Văn T1, Phạm Thị T, Trần Văn D, Trần Quốc Đ, Lưu Vũ S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập xử lý.

Về xử lý vậ t chứ ng: Trong giai đoạn điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Ana đã trả lại cho ông Trần Quốc Đ; 01 bình phun thuốc sâu xạc bằng điện màu vàng, hiệu Việt Hàn; 01 cùm kim loại phân nhánh nước hình chữ Y loại hai khóa; ông Lưu Vũ S 01 mô tơ 1 pha 2,2kw hiệu VCD Thành Vinh, màu xám bạc gắn với máy phun thủy lực 01 kw hiệu DEGUANG màu đỏ; 01 máy cắt cỏ hiệu STIHL-FS21 màu vàng cam; 01 bình phun thuốc sâu xạc bằng điện màu vàng hiệu Dolping, 01 vòi phun thuốc sâu (thường gọi là súng xịt thuốc sâu); bà Đỗ Thị M 01 máy bơm loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Sagopum, loại 3 pha 4Kw, 5,5 mã lực; ông Y B BKrông của 01 máy bơm hỏa tiễn loại ruột nhỏ, hiệu Powel 01 pha 1,5Kw, 02 mã lực, 01 máy bơm loại hỏa tiễn, nhãn hiệu NIKKOL 1,1Kw, 1,5 mã lực; gia đình ông Đinh Văn T1 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Zipum 01 pha 1,1Kw, 1,5 mã lực, 01 dây điện màu đen, dài 30m, 01 dây cáp lõi bằng kim loại, bên ngoài bọc nhựa dài 30m, 01 máy bơm hỏa tiển hiệu Goldsun 01pha 1,5Kw, 02 mã lực, 01 dây điện màu đen, dài 23m; 01 dây cáp lõi kim loại, ngoài bọc nhựa, dài 23m; gia đình ông Mai Khắc S1 01 máy bơm hỏa tiển hiệu Daphovina 03 pha 05kw, 07 mã lực, 01 dây điện 3 pha vỏ ngoài màu đen, dài 60m; gia đình bà Phạm Thị T 01 máy bơm hỏa tiễn hiệu Galaxy 03 pha 2,2Kw, 03 mã lực, 01 dây điện 3 pha màu sữa, dài 27m, 01 cái cuốc lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ dài 1m; gia đình ông Trần Văn D 01 máy bơm loại hỏa tiễn hiệu Galaxy 03 pha 3Kw, 04 mã lực, 01 dây điện 3 pha màu đen, dài 90m tại Quyết định xử lý vật chứng số 13 ngày 19/10/2017 không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên không đề cập giải quyết.

Đối với cái kìm bằng kim loại (kìm chết); 01 kéo cắt cành bằng kim loại hai đầu tay cầm bọc vỏ nhựa màu đỏ là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015, để tịch thu, tiêu hủy.

Đối với xe máy hiệu Dream không rõ biển kiểm soát là xe của H’đơk H đã sử dụng đi trộm cắp tài sản của nhà bà Đỗ Thị M vào tháng 4/2015, do H’đơk H đã bán cho một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ nên không thu giữ được để xử lý.

Đối với xe máy hiệu Sirius, BKS 47T1- 055.69, H’đơk H khai mua lại từ một người đàn ông ở huyện C, tỉnh Đắk Lắk và đã bán lại cho một người đàn ông ở thành phố B nhưng không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không thu giữ được để xử lý.

Đối với xe máy hiệu Sirius, BKS 47E1- 061.60 là xe chị H’W Byă, sinh năm 1978, trú tại buôn D, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (là vợ của H’đơk H) mua lại từ cửa hàng mua bán xe máy Công O tại xã E, huyện K vào ngày 04/12/2016, xe đứng tên Nguyễn Thị T3, địa chỉ: thôn L, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Qua điều tra xác định đây là xe máy bà T đã bị mất vào ngày 26/9/2016. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana đã bàn giao xe máy trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng để phục vụ điều tra, giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS 2015, điểm đ khoản 1, Điều 12, Điều 14 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn nộp án phí HSST và án phí DSST cho bị cáo H’đơk H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS 2015, điểm đ khoản 1, Điều 12, Điều 14 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo H’Đơk H (tên gọi khác là B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo H’đơk H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 02/8/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H’Đơk H phải bồi thường thiệt hại cho ông Trịnh Trí H số tiền: 7.065.000 đồng, được khấu trừ số tiền 2.400.000đ gia đình bị cáo đã nộp tại biên lai số 5394 ngày 20/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông H số tiền 4.665.000đ (bốn triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng); Bồi thường thiệt hại cho ông Mai Khắc S1 số tiền 1.760.000 đồng, được trừ số tiền 600.000đ gia đình bị cáo đã nộp theo biên lai số 5394 ngày 20/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông S1 số tiền 1.160.000đ (một triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Buộc bị cáo H’đơk H có trách nhiệm phải trả lại cho ông Hồ Sỹ P 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

+ Về xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc kìm bằng kim loại (kìm chết); 01 kéo cắt cành bằng kim loại hai đầu tay cầm bọc vỏ nhựa màu đỏ là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo H’đơk H.

Bị cáo và người bị hại có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì Người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ