- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2018/HNGĐ.PT Ngày: 11 – 01 - 2018. V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
- Các Thẩm phán: 1/ Ông Phạm Văn Bình
2/ Ông Nguyễn Quyến
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Minh Trí, Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Quốc Thông - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 11 tháng 01 năm 2018, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2017/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2017/QĐPT- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1992
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị M, sinh năm 1995
Địa chỉ: Ấp Q2, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. NLQ1, sinh năm 1973
2. NLQ2, sinh năm 1971
Cùng địa chỉ: Ấp Q6, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
3.NLQ3, sinh năm 1972
4. NLQ4, sinh năm 1978
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và và trong quá trình làm việc tại Tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông và bà Đặng Thị M đã ly hôn theo quyết định số 91/QĐST – HNGĐ, ngày 27.12.2016 của Tòa án nhân dân huyện V, thành phố Cần Thơ. Theo thỏa thuận được ghi nhận trong quyết định thì ông Nguyễn Văn C tự nguyện giao con chung là cháu Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 29.7.2012 cho bà Đặng Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn C tự nguyện cấp dưỡng mỗi tháng là 605.000đ/tháng đến khi cháu Nguyễn Thành Đ đủ 18 tuổi.
Từ khi ly hôn đến nay bà Đặng Thị M không trực tiếp chăm sóc con mà giao lại cho NLQ1 và NLQ2 là ông bà ngoại cháu Nguyễn Thành Đ nuôi dưỡng, do bà Đặng Thị M đã lập gia đình khác, nên ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn C trình bày thêm: Sở dĩ ông không thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Thành Đ theo quyết định số 91/QĐST – HNGĐ, ngày 27.12.2016 của Tòa án nhân dân huyện V, thành phố Cần Thơ là vì bà Đặng Thị M có gia đình khác nên ông Nguyễn Văn C không muốn cấp dưỡng nuôi con chung.
* Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn bà Đặng Thị M trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn C về quan hệ hôn nhân, con chung giữa bà và ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án nhân dân huyện V, thành phố Cần Thơ giải quyết bằng quyết định số 91/QĐST – HNGĐ, ngày 27.12.2016.
Hiện tại bà Đặng Thị M đã có chồng, việc chăm sóc cháu Nguyễn Thành Đ bà giao lại cho cha mẹ là NLQ1 NLQ2 chăm sóc, nhưng hàng tháng bà Đặng Thị M gửi tiền về nuôi con, mỗi tháng 3.500.000đ/tháng. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà không đồng ý giao con chung lại cho ông Nguyễn Văn C nuôi.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đặng Thị M trình bày thêm: Trong thời gian tới bà Đặng Thị M sẽ sắp xếp công việc về sống chung với cháu Nguyễn Thành Đ để tiện chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Thành Đ, cháu Nguyễn Thành Đ sống chung với bà và ông bà ngoại cháu Nguyễn Thành Đ được bốn năm, nên quen môi trường sinh hoạt.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày trong quá trình tham gia tố tụng:
- NLQ1 là cha của bà Đặng Thị M, thống nhất với lời trình bày của bà Đặng Thị M, không đồng ý giao cháu Nguyễn Thành Đ cho ông Nguyễn Văn C nuôi.
- NLQ2 là mẹ của bà Đặng Thị M thống nhất với lời trình bày của bà Đặng Thị M, không đồng ý giao cháu Nguyễn Thành Đ cho ông Nguyễn Văn C nuôi.
- NLQ3 là mẹ của ông Nguyễn Văn C thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn C, nếu giao cháu Nguyễn Thành Đ cho ông Nguyễn Văn C nuôi bà đồng ý chăm sóc cháu Nguyễn Thành Đ, giúp ông Nguyễn Văn C.
- NLQ4 là cha của ông Nguyễn Văn C, thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn C, nếu giao cháu Nguyễn Thành Đ cho ông Nguyễn Văn C nuôi, ông đồng ý hổ trợ ông Nguyễn Văn C trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thành Đ.
Vụ kiện được Tòa án nhân dân huyện V tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2017/DSST ngày 13.7.2017 của Tòa án nhân dân huyện V đã tuyên như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 29/7/2012, vì không đủ cơ sở.
Quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung được thi hành theo Quyết định số: 91/2016/QĐST – HNGĐ ngày 27/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện V, thành phố Cần Thơ. Ngoài ra, các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 24.7.2017, nguyên đơn Nguyễn Văn C kháng cáo bản án sơ thẩm; Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn C giữ nguyên yêu cầu xin được nuôi con. Lý do: bà Đặng Thị M có chồng khác.
Đối với bà Đặng Thị M không đồng ý yêu cầu của ông Nguyễn Văn C. Lý do: Mỗi lần ông Nguyễn Văn C chở con về nhà bên nội đến khoảng một giờ sau thì ông Nguyễn Văn C đưa cháu trả lại; Cháu Nguyễn Thành Đ không chịu ở bên cha và bên nội. Tuy bà Đặng Thị M có chồng nhưng đâu ai ngược đãi cháu Nguyễn Thành Đ và quan trọng hơn là từ nhỏ đến nay cháu Nguyễn Thành Đ sống cùng mẹ và bên ngoại.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo nhưng chưa có chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu được nuôi con. Lý do ông Nguyễn Văn C đưa ra là bà Đặng Thị M có chồng khác xin được nuôi con nhưng công việc của ông Nguyễn Văn C không ổn định nên đề nghị y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trontg hồ sơ vụ án, thẩm tra lại các chứng cứ này tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Xét về tố tụng: Xét quan hệ pháp luật, đây là loại kiện tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo xin được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Thành Đ (giới tính nam) sinh ngày 29.7.2012. Hiện tại cháu Nguyễn Thành Đ sống với mẹ ruột là bà Đặng Thị M từ ngày bà Đặng Thị M và ông Nguyễn Văn C có quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự (Quyết định số: 91/2016/QĐST-HNGĐ ngày 27.12.2016 của Tòa án nhân dân huyện V, thành phố Cần Thơ (BL: 04).
Theo quyết định thuận tình ly hôn nêu trên, ông Nguyễn Văn C đồng ý giao cháu Nguyễn Thành Đ cho bà Đặng Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thành Đ mỗi tháng 605.000 đồng, tính từ ngày 01.01.2017 cho đến khi cháu Nguyễn Thành Đ tròn 18 tuổi. Nhưng từ ngày 01.01.2017 đến nay, ông Nguyễn Văn C chưa lần nào thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chưa thể hiện sự quan tâm, thăm nom, chăm sóc cháu Nguyễn Thành Đ theo luật định. Nay ông Nguyễn Văn C yêu cầu thay đổi người nuôi con chung, nghĩa là bà Đặng Thị M phải giao cháu Nguyễn Thành Đ lại cho ông trực tiếp nuôi dưỡng.
. Xét về điều kiện nuôi con chung của bà Đặng Thị M và ông Nguyễn Văn C:
Nhận thấy cả hai người đều có thể nuôi cháu Nguyễn Thành Đ kể cả ông bà nội, ông bà ngoại của cháu Nguyễn Thành Đ cũng thể hiện trách nhiệm yêu thương cháu Đ. Đây là một lợi thế để cháu Nguyễn Thành Đ trực tiếp tục sống trong tình yêu thương của đại gia đình. Qua đó mới có đủ điều kiện để cháu phát triển toàn diện. Xã hội và pháp luật rất trân trọng những tình cảm yêu thương đầy trách nhiệm này đối với thế hệ trẻ đặc biệt là các cháu có hoàn cảnh cha mẹ ly hôn.
. Tuy nhiên, xét về điều kiện cụ thể, xuất phát từ quyền lợi mọi mặt của cháu Nguyễn Thành Đ. Hội đồng xét xử cần cân nhắc thật kỷ lưỡng các vấn đề sau:
- Từ lúc cha mẹ chia tay, cháu Nguyễn Thành Đ sống với mẹ và nương nhờ bên ngoại, bà Đặng Thị M mẹ cháu Nguyễn Thành Đ đã có việc làm ổn định, có thu nhập được chứng minh rõ ràng (BL: 10).
- Từ khi cháu Nguyễn Thành Đ sống với mẹ đến nay chưa có căn cứ nào cho thấy cháu Nguyễn Thành Đ phát triển không bình thường.
- Qua xác minh ở địa phương, bà con xung quanh nơi ở của cháu Nguyễn Thành Đ đều cho rằng nếu cháu Nguyễn Thành Đ tiếp tục sống với bên mẹ sẽ thuận tiện hơn vì môi trường sống ở đây được đảm bảo (BL: 32).
. Đối với hoàn cảnh của ông Nguyễn Văn C: Vẫn có thu nhập, có việc làm, đủ tư cách nuôi dạy con. Tuy nhiên, từ trước khi ly hôn đến nay, cháu Nguyễn Thành Đ gắn bó với mẹ nhiều hơn, môi trường sống bên ngoại vẫn đảm bảo cho cháu Nguyễn Thành Đ phát triển. Có điều, ông Nguyễn Văn C thể hiện thương yêu con muốn trực tiếp nuôi con nhưng từ ngày thuận tình ly hôn chưa lần nào cấp dưỡng nuôi con mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm ông có thể hiện việc cấp dưỡng. Tuy vậy, nhưng ông Nguyễn Văn C đã vi phạm nghĩa vụ làm cha của ông đối với cháu Nguyễn Thành Đ theo quy định của pháp luật. Cụ thể là không chấp hành quyết định thuận tình ly hôn của ông và bà Đặng Thị M đã có hiệu lực từ ngày 01.01.2017, đây là nghĩa vụ cấp dưỡng (BL: 04) tiếp tục tạo khó khăn cho bà Đặng Thị M trong việc nuôi cháu Nguyễn Thành Đ. Vì vậy, từ khi khởi kiện, kháng cáo đến giai đoạn phúc thẩm ông Nguyễn Văn C chưa có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình một cách thuyết phục và thiện chí.
Qua phân tích trên, thấy rằng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Điều 4; 5; 28; 35; 70; 147; 248; 254; 266; 267; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 82; 83; 84; 85; 86; 104; 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Thành Đ (giới tính nam) sinh ngày 29.7.2012.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 19/2017/HNGĐ-ST ngày 13.7.2017 về việc tranh chấp xin thay đổi người tiếp nuôi con của Tòa án nhân dân huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lại thu số: AB/2013/009301 ngày 19.4.2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, thành phố Cần Thơ thành án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nên ông Nguyễn Văn C không phải nộp thêm.
- Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lại thu số AB/2013/009397 ngày 24.7.2017 thành án phí phúc thẩm nên xem như ông Nguyễn Văn C đã nộp xong án phí phúc thẩm.
Bản án này là phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS.ND.TP. Cần Thơ; - TA.ND.H.V; - THA.H.V; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Văn Hùng |