vanban.org

Bản án 01/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị H đối với ông Lê Công H.

Tuyên xử: Bà Trần Thị H, sinh năm 1985, được ly hôn với ông Lê Công H, sinh năm 1981. Giấy chứng nhận kết hôn số 82 quyển số 02 ngày 15.5.2006 của UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Huyền-Lê Công Hà"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị H đối với ông Lê Công H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNGĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2018/HNGĐ-ST
Ngày 11.01.2018
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sỹ và ôngNguyễn Công Chi

- Thư ký phiên tòa:ÔngKhuất Duy Toàn- Thư ký Tòaán nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.

Ngày 11 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 359/2017/TLST-HNGĐ ngày05tháng 10 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2017/QĐ-DSST ngày 25.12.2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H - Sinh năm 1985. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Công H - Sinh năm 1981. (vắng mặt lần 2 không lí do).

Cùng trú tại: Tổ 33C, phường H, quận L, Tp Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ ánvà tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:Tôi và ông Lê Công H kết hôn vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống tạiV, tỉnh Quảng Trị, đến năm 2007 chuyển đến sinh sống tại tổ 33C, phường H, quận L, Tp Đà Nẵng.

Trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do ông Lê Công H thường xuyên cờ bạc, ăn chơi không lo làm ăn, không chăm lo cho con cái mà bỏ mặc tôi một mình phải lo lắng. Dù nhiều lần tôi nhắc nhở khuyên bảo nhưng anh vẫn không từ bỏ cờ bạc.Vì con cái còn nhỏ, sợ bị ảnh hưởng đến tâm sinh lý cũng như học hành nên tôi đã cố gắng chấp nhận im lặng cho ông H thêm cơ hội để con cái được đầy đủ cha mẹ.Tuy nhiên, ông H vẫn chứng nào tật đó, không thay đổi, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn.Vào ngày 01.10.2017 tôi cùng con đã về quê sinh sống, chúng tôi đã ly thân từ đó đến nay, vậy xét thấy mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung, tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể duy trì nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với ông Lê Công H.

- Về quan hệ con chung:Tôi và ông Lê Công H có 02 con chung là:

+Lê Công V - sinh ngày 20.10.2006.

+ Lê Công T - sinh ngày 22.12.2007.

Ly hôn tôi xin nuôi hai con chungLê Công V và Lê Công T và yêu cầu ông Lê Công H cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/2 cháu (1.500.000 đồng/1 cháu).

- Về tài sản chung: Bà Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung:Bà Trần Thị H khai nhận không có.

* Bị đơn là ông Lê Công H không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 23.10.2017, không tham gia phiên hòa giải vào ngày 17.11.2017 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

.Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Trần Thị H và ông Lê Công H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theoquyđịnhtạikhoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 25.12.2017 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khaiQuyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông Lê Công H, nhưng ông Lê Công Hvẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Lê Công H.

.Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với ông Lê Công H thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân:Bà Trần Thị H và ông Lê Công Hcó thời gian tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị vào năm 2006. Theo bà Trần Thị H trình bày thì trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu do ông Lê Công H thường xuyên cờ bạc, ăn chơi không lo làm ăn, không chăm lo cho con cái mà bỏ mặc bà H một mình phải lo lắng mọi việc. Dù nhiều lần bà H nhắc nhở khuyên bảo nhưng ông H vẫn không từ bỏ cờ bạc.Vì con cái còn nhỏ, sợ bị ảnh hưởng đến tâm sinh lý cũng như học hành nên bà H đã cố gắng chấp nhận im lặng cho ông H thêm cơ hội để con cái được đầy đủ cha mẹ.Tuy nhiên, ông H vẫn chứng nào tật đó, không thay đổi, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn.Vào ngày 01.10.2017 bà H cùng con đã về quê sinh sống, và sống ly thân vậy từ đó cho đến nay, xét thấy mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung, tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể duy trì nên bà Trần Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với ông Lê Công H.

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn là ông Lê Công H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H. Theo đơn xác nhận tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị thì cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, bà Huyền cùng con về quê sinh sống từ tháng 10 năm 2017 đến nay. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Trần Thị H yêu cầu Toàán giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tạiĐiều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hộiđồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung:BàTrần Thị H khai nhận có 02 con chung là:

+ Lê Công V - sinh ngày 20.10.2006.

+ Lê Công T - sinh ngày 22.12.2007.

Bà Trần Thị H đề nghị, ly hôn bà xin nuôi hai con chung và yêu cầu ông Lê Công Hà cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/2 cháu/01 tháng (1.500.000 đồng/1 cháu/ 01 tháng).

HĐXX xét thấy, theo bà Trần Thị H cung cấp thông tin thì hiện nay bà H buôn bán tại nhà có thu nhập 10.000.000 đồng/1 tháng, đồng thời hai cháu đang ở cùng mẹ học tập ăn ở ổn định. Đối với hai cháu Lê Công V, Lê Công T còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ trong quá trình phát triển tâm sinh lý khi trưởng thành. Hơn nữa cháu Lê Công V, Lê Công T có đơn trình bày thể hiện có nguyện vọng ở với mẹ, mặc khác ông Lê Công H cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó, HĐXX xét thấy việc giao cháu Lê Công V, Lê Công T cho bà H nuôi dưỡng, chăm sóc là đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của cháu và hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Trần Thị H yêu cầu ông Lê Công H cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng/02 con chung.Việc nuôi con là trách nhiệm của cả hai vợ chồng do vậy cần buộc ông Lê Công H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng/02 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về Tài sản chung: Bà Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Vềnợ chung:Bà Trần Thị H khai nhận không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Công H cũng không có ý kiến gì đối với tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Nếu sau này bà Trần Thị H và ông Lê Công H có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

. Về án phí:Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: bà Trần Thị H phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị H đối với ông Lê Công H.

Tuyên xử: Bà Trần Thị H, sinh năm 1985, được ly hôn với ông Lê Công H, sinh năm 1981.

Giấy chứng nhận kết hôn số 82 quyển số 02 ngày 15.5.2006 của UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Tuyên:

- Giao con hai chung Lê Công V - sinh ngày 20.10.2006 và Lê Công T - sinh ngày 22.12.2007cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

- Buộc ông Lê Công H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng/02 con chung (ba triệu đồng)(1.500.000 đồng/01 con).

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Về án phí:

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Trần Thị H phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số0000543 ngày 05.10.2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, bà Trần Thị H đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

- Án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con ông Lê Công H phải nộp 300.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ