vanban.org

Bản án 01/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị B được ly hôn anh Ngô Văn M.

Về con chung: Giao hai con chung Ngô Nhật N, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2010 và Ngô Đức Thiện N, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2013 cho chị Ngô Thị B trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Ngô Văn M cho chị Ngô Thị B. Khi nào chị B có yêu cầu Tòa án xem xét, giả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị B được ly hôn anh Ngô Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HNGĐ-ST
Ngày 04 - 01-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Tươi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Tuân

Bà Nguyễn Thị Lợi

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Cán bộ Toà án huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 255/2017/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2017/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị B, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Ngô Văn M, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, tại bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Ngô Thị B trình bày:

Chị và anh Ngô Văn M kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về sống tại gia đình anh M ở thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Minh không chịu làm ăn, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng cãi cọ, va chạm không có hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng chị căng thẳng nhất vào năm 2015 nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Do hôn nhân không có hạnh phúc nên hai bên đã sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm và có trách nhiệm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mâu thuẫn đã nghiêm trọng kéo dài, sống ly thân hai bên không thể hàn gắn đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn M để giải phóng cho hai bên khỏi sự ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Chị Ngô Thị B và anh Ngô Văn M có 02 con chung là Ngô Nhật N, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2010 và Ngô Đức Thiện N, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2013. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao hai con chung Ngô Nhật N và Ngô Đức Thiện N cho chị nuôi dưỡng sau ly hôn, chị không yêu cầu anh Minh phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về tài sản chung: Chị Ngô Thị B xác định chị và anh Ngô Văn M không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Ngô Văn M:

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh Ngô Văn M đến Toà án để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị B, song anh M đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự: Xét xử tập thể, công khai, trình tự thủ tục tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với nguyên đơn đã chấp hành các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã vi phạm Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không tham gia tố tụng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, lời khai của các đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 51,56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử: cho chị Ngô Thị B được ly hôn với anh Ngô Văn M.

Về con chung: Giao hai con chung Ngô Nhật N và Ngô Đức Thiện N cho chị Ngô Thị B nuôi dưỡng sau ly hôn, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh M cho chị B.

Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Ngô Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về việc vắng mặt của bị đơn anh Ngô Văn M : Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành các trình tự giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Toà án đã giao và gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy báo và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh M theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự song bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Ngô Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Ngô Thị B về thời gian, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên thường xuyên va chạm, bất hòa, không có hạnh phúc và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, không còn quan tâm và trách nhiệm đến nhau nữa. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, không tin tưởng nhau, anh M không chịu làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần báo anh M đến để hòa giải tìm cách khắc phục mâu thuẫn giữa chị B và anh M. Tuy nhiên anh M vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên hòa giải để hai bên hàn gắn đoàn tụ. Bản thân chị B xác định chị không còn tình cảm vợ chồng, sự tin tưởng, gắn bó với anh M và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ngô Văn M.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Ngô Thị B và anh Ngô Văn M kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn do đó yêu cầu xin ly hôn của chị B với anh M là có cơ sở cần được chấp nhận để giải phóng cho hai bên khỏi sự ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân. Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Ngô Thị Bích được ly hôn anh Ngô Văn M.

Về con chung: Chị Ngô Thị B và anh Ngô Văn M có 02 con chung là Ngô Nhật N, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2010 và Ngô Đức Thiện N, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2013. Việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án chị B có quan điểm được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung Ngô Đức Thiện N và Ngô Nhật N, chị không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Anh Ngô Văn M không có lời khai, không có mặt tại phiên tòa nên không có quan điểm của anh M về con chung. Xét quan điểm của chị B đưa ra là tự nguyện, phù hợp nên giao hai con chung Ngô Nhật N và Ngô Đức Thiện N cho chị Ngô Thị B nuôi dưỡng sau ly hôn, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Ngô Văn M cho chị Ngô Thị B. Sau này nếu hai bên có tranh chấp về việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác

Về tài sản chung: Chị Ngô Thị B xác định trong quá trình chung sống chị và anh Ngô Văn M không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết còn anh M không có quan điểm gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung sau này nếu hai bên có tranh chấp Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí: Chị Ngô Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 70, 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị B được ly hôn anh Ngô Văn M.

2. Về con chung: Giao hai con chung Ngô Nhật N, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2010 và Ngô Đức Thiện N, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2013 cho chị Ngô Thị B trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Ngô Văn M cho chị Ngô Thị B. Khi nào chị B có yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2018 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị B phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Chị B đã nộp đủ số tiền án phí ly hôn sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (Biên lai thu tiền số 0004236 ngày 31 tháng 7 năm 2017) nên không phải nộp nữa.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nơi bị đơn đang cư trú.

Cỡ chữ