vanban.org

Bản án 01/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên cho chị Đinh Thị H ly hôn anh Mùi Văn Kh.

Con chung: Giao cháu Mùi Đức Q, sinh ngày 29/10/2011 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành, anh Mùi Văn Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn anh Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nợ chung: Chị Đinh Thị H và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Đinh Thị H và Mùi văn Kh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên cho chị Đinh Thị H ly hôn anh Mùi Văn Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HNGĐ-ST
Ngày 04/01/2018
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Ngọc Thông;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Hằng và bà Đinh Thị Hoán.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Luyến, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2017/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 11 năm 2017 về Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1990, cư trú tại bản Nà L, xã Huy H, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Mùi Văn Kh, sinh năm 1984, cư trú tại bản B, xã Tân Ph, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La - Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, do ông Cầm Văn Luận, phó Giám đốc đại diện, vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn Kh kiện ngày 03/11/2017 và bản tự khai chị Đinh Thị H đều trình bày: Chị đăng ký kết hôn với anh Mùi Văn Kh ngày 09/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Ph, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, do hai bên tự nguyện tìm hiểu, không ai ép buộc, anh chị chung sống với nhau được 07 năm, trong quá trình chung sống anh chị luôn bất đồng quan điểm, do tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra to tiếng với nhau đã có nhiều lần xảy ra xô sát, đặc biệt vào tháng 12/2016 anh Kh đã gây thương tích chị H phải đi bệnh viện khâu vết thương, do mâu thuẫn không thể giải quyết được tháng 6/2017 chị H đã nộp đơn tại Tòa án nhân dân huyện Phù Yên yêu cầu ly hôn anh Kh, quá trình hòa giải tại Tòa án chị H đã rút đơn Khởi kiện trở đoàn tụ đến nay, kể từ đó đến nay anh Kh vẫn không thay đổi vẫn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2017 đến nay, chị H yêu cầu ly hôn anh Mùi Văn Kh. Trong quá trình chung sống anh chị đã có với nhau 01con chung là Mùi Đức Q, sinh ngày 29/10/2011, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vay Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La - Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên để làm nhà ở 8.000.000đ (Tám triệu đồng), chị H yêu cầu chia đôi.

Tại bản tự khai anh Mùi Văn Kh trình bày: Anh và chị H có đăng ký kết hôn theo quy định và chung sống với nhau được 07 năm, quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, đã có lần dẫn đến xô sát vợ chồng, nguyên nhân do cả hai bên thiếu tôn trọng nhau, thiếu bàn bạc, thống nhất khi có việc cần giải quyết, khi gặp khó khăn thiếu sự chia sẻ, động viên, thường hay trách móc nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, quá trình chung sống đã có 01 con chung, do mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức phải ly hôn, anh yêu cầu được đoàn tụ. Tuy nhiên nếu chị H vẫn cương quyết ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung có vay nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên 8.000.000đ (Tám triệu đồng), anh yêu cầu chia đôi.

Trong đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết để chị Đinh Thị H và anh Mùi Văn Kh có trách nhiệm trả đủ tiền vay 8.000.000đ (Tám triệu đồng) khi đến kỳ trả nợ và phần lãi suất phát sinh đến khi trả hết nợ.

Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 13/11/2017 các đương sự thống nhất về yêu cầu, phạm vi Kh kiện, không có yêu cầu phản tố, không ai cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu gì khác.

Tại các phiên hòa giải ngày 13/11/2017; ngày 21/11/2017 và ngày 28/11/2017 chị H và anh Kh không tự thỏa thuận được với nhau vì lý do: Về tình cảm chị H yêu cầu ly hôn; về con chung yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về nợ chung yêu cầu chia đôi; về tài sản không yêu cầu giải quyết. Anh Mùi Văn Kh yêu cầu được đoàn tụ, nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con; về nợ chung chia đôi; tài sản chung không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên Tòa: Chị Đinh Thị H trình bày ý kiến tranh luận vẫn giữ nguyên yêu cầu Kh kiện và không cung cấp chứng cứ, tài liệu nào thêm; anh Mùi Văn Kh vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án; những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân & Gia đình năm 2015 chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị H được ly hôn anh Mùi Văn Kh; về con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi cháu Mùi Đức Q, anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về nợ chung: chị H và anh Kh mỗi người phải trả 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) và lãi suất phát sinh đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên; về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, chị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo đơn Khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định vụ án yêu cầu Ly hôn do nguyên đơn là chị Đinh Thị H Kh và bị đơn là anh Mùi Văn Kh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Mùi Văn Kh đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do hai bên tự nguyện tìm hiểu, không ai bị ép buộc hoặc bị lừa dối. Trong quá trình chung sống đã bộc lộ tính cách khác biệt, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên xảy ra va chạm, gia đình hai bên và chính quyền cơ sở bản Nà L, xã Huy Hạ đã giải quyết nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng hơn, do mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được, tháng 6 năm 2017 chị H đã Khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ly hôn với anh Kh, quá trình giải quyết vụ án chị H đã rút đơn yêu cầu trở lại đoàn tụ cùng anh Kh. Tuy nhiên kể từ đó đến nay tình cảm giữa chị H và anh Kh vẫn không có chuyến biến tích cực và đã sống ly thân không còn quan tâm và không còn có trách nhiệm với nhau. Tại phiên tòa chị H vẫn yêu cầu ly hôn anh Kh. Xét thấy, mặc dù anh Kh vẫn có nguyện vọng được đoàn tụ, nhưng mức độ mâu thuẫn giữa chị H và anh Kh đã đén mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn để duy trì cuộc sống chung lâu dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần tuyên cho Đinh Thị H được ly hôn anh Mùi Văn Kh.

Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Mùi Văn Kh đều xác nhận cháu Mùi Đức Q, sinh ngày 29/10/2011 là con chung của vợ chồng, chị H và anh Kh đều có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét khả năng thực tế chị H có điều kiện thuận lợi hơn để chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, mặt khác cháu Mùi Đức Q có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Đinh Thị H. Để đảm bảo lợi ích về mọi mặt của con chưa thành niên, cần giao cháu Mùi Đức Q cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành, anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn anh Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Đinh Thị H và anh Mùi Văn Kh tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị H và anh Kh mỗi người có trách nhiệm trả tiền vay cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

- Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La - Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) và phần lãi suất phát sinh đến khi trả hết nợ .

Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân & Gia đình năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

2. Tuyên cho chị Đinh Thị H ly hôn anh Mùi Văn Kh.

3. Con chung: Giao cháu Mùi Đức Q, sinh ngày 29/10/2011 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành, anh Mùi Văn Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn anh Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Nợ chung: Chị Đinh Thị H và anh Mùi Văn Kh mỗi người trả 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La - Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên và phần lãi suất phát sinh đến khi trả hết nợ .

5. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số: AA/2013/04239, ngày 06/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm chị Đinh Thị H có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

Anh Mùi Văn Kh và Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Sơn La - Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phù Yên có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi gửi:

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN

- TAND tỉnh Sơn La;

Cỡ chữ