vanban.org

Bản án 01/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Hoàng Quang A.

Về nuôi con chung: Giao cho bà Phạm Thị N được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Ngọc Gia N, sinh ngày 05/01/2013, ông A không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị N và Hoàng Quang A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Hoàng Quang A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LỘ
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HNGĐ-ST
Ngày 24-5-2018
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Thẩm phán: Bà Lê Hoài Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Thái Tăng Hữu;

+ Ông Nguyễn Như Chiến.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 116/2017/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2017 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/4/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Bị đơn: Ông Hoàng Quang A, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày: Bà N và ông Hoàng Quang A chung sống với nhau năm 2012, đến ngày 22/3/2013 đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Cam Lộ trên cơ sở tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống mâu thuẫn có xảy ra, nguyên nhân chủ yếu là do ông A ham chơi cờ bạc, không lo lắng gì cho gia đình và bà N đã tha thứ cho ông A nhiều lần nhưng ông A không thay đổi. Hiện nay, bà N và ông A đã ly thân từ tháng 5/2017 cho đến nay. Bà N cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài nên bà N đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hoàng Quang A.

Về con chung: Bà Phạm Thị N và ông Hoàng Quang A có một cháu Hoàng Ngọc Gia N, sinh ngày 05/01/2013. Ly hôn bà Phạm Thị N xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu ông Hoàng Quang A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông A vắng mặt không có lý do,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Hoàng Quang A được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải phiên hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị N và ông Hoàng Quang A được hai gia đình làm lễ cưới và sống với nhau năm 2012, đến năm 2013 đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Cam Lộ. Quá trình vợ chồng chung sống mâu thuẩn phát sinh chủ yếu theo bà N trình bày cũng như chính quyền địa phương nơi bà N và ông A sinh sống cho biết là do ông A ham chơi cờ bạc, không chăm lo gia đình, thậm chí còn có biểu hiện không chung thủy đối với bà N. Việc này hai bên đã được khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả. Ông A và bà N đã sống ly thân từ tháng 5/2017 cho đến nay và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn giữa bà N và ông A không thể khắc phục được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1, Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình cần xử cho bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Hoàng Quang A.

Về con chung: Có 01 cháu Hoàng Ngọc Gia N, sinh ngày 05/01/2013. Ly hôn bà Phạm Thị N xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu ông Hoàng Quang A cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu N còn nhỏ phải cần đến sự chăm sóc của bố mẹ, từ ngày bà N và ông A ly thân đến nay cháu N đang sống với bà N và bà N chăm sóc cháu từ đó đến nay, bà N có việc làm và thu nhập ổn định. Nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu N cần xử giao cháu N cho bà N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và ông A không phải cấp dưỡng nuôi con. Cần chấp nhận yêu cầu của bà N căn cứ vào các Điều 81, Điều 82 luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Bà N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình và Điều 24, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:

- Về hôn nhân: Cho bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Hoàng Quang A.

- Về nuôi con chung: Giao cho bà Phạm Thị N được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Ngọc Gia N, sinh ngày 05/01/2013, ông A không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về án phí: Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số AA/2014/0001506 ngày 29/12/2017 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Cam Lộ. Bà N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.

- Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Hoàng Quang A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hoặc tống đạt hợp lê ̣./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ