- Tranh chấp gì? án hành chính — "Đỗ Văn L vs Ủy ban nhân dân huyện Đ"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSV ngày 9-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai có nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai sửa phần một Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HCST ngày 28-9-2017 của Tòa…
- Căn cứ chính? Điều 136 Luật Đất đai; Điều 229 Luật tố tụng hành chính; Điều 233 Luật tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/HC-PT Ngày 26-4-2018 V/v “khiếu kiện các quyết định hành chính” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Tiến Dũng;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Sinh;
Ông Võ Văn Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2017/TLPT- HC ngày 5 tháng 12 năm 2017 về việc khiếu kiện các quyết định hành chính.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2018/QĐ-PT ngày 2 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện:
Ông Đặng Ngọc L và bà Đỗ Thị B; địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị B:
Ông Vũ Đình N; địa chỉ: 63/18 Tôn Thất T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: 184 Nguyễn H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; do ông Nguyễn Tiến D - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, làm đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 27-3-2018). Ông Nguyễn Tiến D vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
Ông Nguyễn Thành Th, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ:
Ông Nguyễn Tiến D - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ (văn bản ủy quyền ngày 27-3-2018). Ông Nguyễn Tiến D vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
4. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 30-6-2014, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 12-5-2015 và các lời khai tại Tòa án, người khởi kiện là ông Đặng Ngọc L và bà Đỗ Thị B trình bày:
Năm 1986, họ mua một lô đất của bà Tạ Thị L với giá 1 chỉ vàng, nhưng không có giấy tờ. Ngày 20-10-1987, họ mua thêm một lô đất của ông Nguyễn Tiến L, việc mua đất có viết giấy tay. Hai mảnh đất này nằm sát nhau. Họ sinh sống ổn định từ năm 1986, không có tranh chấp.
Năm 2003, họ được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ Y 970138, tổng diện tích là 25.114m2; trong đó, thửa đất số 32 tờ bản đồ số 18 có diện tích 7.540m2 đất trồng cây lâu năm.
Năm 2011, bà Trần Thị T kiện đòi lại thửa đất số 32 nêu trên.
Ngày 13-5-2014, Ủy ban nhân dân huyện Đ ra Quyết định số 785/QĐ – UBND, thu hồi thửa đất số 32 nêu trên.
Ngày 16-12-2014, Ủy ban nhân dân huyện Đ ra Quyết định số 2680/QĐ-UBND về việc cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị H.
Do vây, họ khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 785/ QĐ- UBND ngày 13-5-2014 và Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 16-12-2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ và của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ là ông Nguyễn Tiến D trình bày:
Bà Trần Thị T kiến nghị cho rằng nguồn gốc đất là do cha, mẹ bà mua của ông Hải và bà Lụa, nhưng Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông L là không đúng.
Căn cứ Điều 25 của Nghị định số 88/2009/NĐ-CP, Thanh tra huyện kiểm tra, xác minh và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện thu hồi thửa đất số 32, tờ bản đồ sổ 18 tại xã H để cấp lại cho đúng.
Ngày 13-5-2014, Ủy ban nhân dân huyện ra Quyết định số 785/QĐ-UBND thu hồi một phần diện tích đất của ông Đặng Ngọc L. Sau đó, tại Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 16-12-2014, Ủy ban nhân dân huyện cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị H là đúng quy định của Luật đất đai.
Ông L, bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 785/QĐ-UBND ngày 13-5-2014 và Quyết định số 2680/QĐ- UBND ngày 16-12-2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ là không có cơ sở.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H là chị Trần Thị T trình bày:
Năm 1985, cha mẹ của chị là ông Trần Văn V, bà Nguyễn Thị H mua lô đất 7.450 m2 của vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lã Thị L; đất có tứ cận: Đông giáp ông, bà Đ, Tây giáp đất ông V, Nam giáp đất bà L, Bắc giáp đường đi khai thác. Việc mua đất có viết giấy tay ngày 15-2-1985
Gia đình chị trồng lúa và hoa màu trên đất. Sau đó đất bạc màu, nên tạm ngưng sản xuất.
Sau khi cha mất, mẹ của chị sang ở cùng anh trai tại Lâm Đồng, nhưng hộ khẩu vẫn ở xã H. Mẹ của chị giao đất lại cho chị em gái của chị là Trần Thị Thtrông coi, canh tác.
Năm 1998, ông L, bà B là người cùng đi kinh tế mới và là họ hàng thân thuộc xin ra trồng cây bạch đàn để bán cho lâm trường và hứa sau khi thu hoạch cây sẽ trả lại đất. Không hiểu vì sao mà ông L được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 7.450 m2 đất. Việc cấp giấy này là không đúng, gây thiệt hại cho gia đình bà.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HC-ST ngày 28-9-2017, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 29 của Luật tổ tụng hành chính; khoản 1 Điều 136 của Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Hủy Quyết định số 785/QĐ-UBND ngày 13-5-2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc thu hồi một phần diện tích đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đặng Ngọc L và Quyết định số 686/QĐ-UBND ngày 25-6-2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của ông Đặng Ngọc L (lần đầu).
- Hủy Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 16-12-2014 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị H và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX135161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16-12-2014 cho bà Nguyễn Thị H.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
- Trả lại cho bà Đỗ Thị B 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính theo Biên lai số 0001614 ngày 09-7-2014 và 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính theo Biên lai số 0002059 ngày 15-3-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSV ngày 9-10-2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã quyết định kháng nghị bản án sơ thẩm nêu trên với nội dung:
- Tại bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Đ hủy Quyết định số 686/QĐ-UBND ngày 25-6-2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX135161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16-12-2014 cho bà Nguyễn Thị H, là không có căn cứ, vượt quá yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng hủy bỏ nội dung này tại bản án sơ thẩm.
- Ông Đặng Ngọc L và bà Đỗ Thị B cùng nộp tạm ứng án phí, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Đỗ Thị B là sai sót. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông Đặng Ngọc L và bà Đỗ Thị B.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện.
- Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Kiểm sát viên rút một phần kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSV ngày 9-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai có nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai sửa phần một bản án sơ thẩm theo hướng hủy bỏ phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “hủy Quyết định số 686/QĐ-UBND ngày 25-6-2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ” và hủy bỏ phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX135161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16-12-2014 cho bà Nguyễn Thị H”; đồng thời, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSV ngày 9-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai về việc trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông Đặng Ngọc L và bà Đỗ Thị B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Do tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên rút một phần kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSV ngày 9-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai về nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng hủy bỏ phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “hủy Quyết định số 686/QĐ-UBND ngày 25-6-2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ” và hủy bỏ phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX135161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16-12-2014 cho bà Nguyễn Thị H”, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 4 Điều 233 Luật tố tụng hành chính để chấp nhận việc rút một phần kháng nghị và căn cứ vào khoản 3 Điều 229 Luật tố tụng hành chính để đình chỉ xét xử phần kháng nghị đó.
Theo thông báo của Tòa án cấp sơ thẩm, ông Đặng Ngọc L, bà Đỗ Thị B đã nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí (Biên lai số 0001614 ngày 4-7-2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, bút lục số 23) và nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí (Biên lai số 0002059 ngày 15-3-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, bút lục số 201A).
Do ông Đặng Ngọc L và bà Đỗ Thị B không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, nên họ được hoàn trả 400.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp. Tuy nhiên, tại bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Đỗ Thị B, là không chính xác. Vì vậy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ là có căn cứ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm là không đúng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết này thì phải áp dụng quy định của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27-2-2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 229, khoản 4 Điều 233 và khoản 2 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính;
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSV ngày 9-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai có nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai sửa phần một Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HCST ngày 28-9-2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai theo hướng hủy bỏ phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “hủy Quyết định số 686/QĐ-UBND ngày 25-6-2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ” và hủy bỏ phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX135161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16-12-2014 cho bà Nguyễn Thị H”.
2. Chấp nhận kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSV ngày 9-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HCST ngày 28-9-2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai về án phí hành chính sơ thẩm như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 136 của Luật đất đai năm 2003; Điều 34 của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27-2-2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Hủy Quyết định số 785/QĐ-UBND ngày 13-5-2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai “về việc thu hồi một phần diện tích đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Đặng Ngọc L” và hủy Quyết định sổ 686/QĐ-UBND ngày 25-6-2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai “về việc giải quyết khiếu nại của ông Đặng Ngọc L (lần đầu)”.
- Hủy Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 16-12-2014 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai “về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị H” và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX135161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16-12-2014 cho bà Nguyễn Thị H.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai phải chịu 200.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
- Ông Đặng Ngọc L và bà Đỗ Thị B không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho ông Đặng Ngọc L, bà Đỗ Thị B 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0001614 ngày 09-7-2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai,
Hoàn trả lại cho ông Đặng Ngọc L, bà Đỗ Thị B 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0002059 ngày 15-3-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND huyện Đ; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THA dân sự huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu HS, Toà HC, VT, AV. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phan Tiến Dũng |