vanban.org

Bản án 01/2018/HC-PT — Hành chính

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/02/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/02/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật tố tụng hành chính;

Không ch p nhận kháng cáo của ông Trần Văn L. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế"
  • Tòa quyết gì? Luật tố tụng hành chính;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HC-PT
Ngày: 07-02-2018
“
“ V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực thuế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Ngọc Giao.

Các Thẩm phán:

Ông Ngô T n L i.

Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tu n – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông B i Văn Thân – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày

và ngày

2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2017/TLPT–HC ngày 02 tháng 10 năm

7, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2017/HC-ST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2017 QĐHC-PT ngày 04 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Trần Văn L, sinh năm 95 ;

Địa chỉ: Khóm C, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Tống T, sinh năm 9 ;

Địa chỉ: B i Văn D, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Có m t .

. Người bị kiện: Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H, tỉnh Đồng Tháp;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh P - Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H, tỉnh Đồng Tháp;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C - Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H, tỉnh Đồng Tháp Có m t ;

Địa chỉ: Khóm A, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

3. Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh Đồng Tháp;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T– Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H Có đơn xin v ng m t ;

Địa chỉ: Khóm A, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

3. . Chi cục Thuế thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh P - Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H, tỉnh Đồng Tháp;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C - Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H, tỉnh Đồng Tháp Có m t ;

Địa chỉ: Khóm A, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

3.3. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 9 ;

Địa chỉ: Khóm C, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Quách Trần Xuân L, sinh năm 1969;

Địa chỉ: rạch B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người kháng cáo: Ông Trần Văn L - là người khởi kiện trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2013, biên bản đối thoại đề ngày 29/6/2017 các bản tự khai và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:

Đề nghị hủy Quyết định số 39 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H và buộc Chi cục Thuế c ng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H có trách nhiệm liên đ i trả cho ông L số tiền đã cư ng chế là 3 . .

đồng, bồi thường thiệt hại tương đương lãi su t tính từ ngày 5 9

3 đến khi vụ án đư c xét xử xong vụ án vì những lý do:

Hộ gia đình ông L gồm có 5 thành viên ông Trần Văn L, bà Nguyễn Thị B và các con là Trần Thị Q, Trần Thị Thúy H, Trần Văn T, gia đình ông tạo lập đư c số tài sản là nhà kho diện tích 9 ,5 m2 g n liền v i thửa đ t có diện tích là 1.611 m2 thuộc thửa 165, tờ bản đồ số 12 tọa lạc khóm C, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp đư c UBND thị xã H c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BB 39 số vào sổ CH

ngày

do bà Nguyễn Thị B đứng tên đại diện. Bà B tự thành lập doanh nghiệp tư nhân DNTN B, kinh doanh ngành lương thực, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp của bà B phá sản, n nhiều người, trong đó có n bà Dương Thị B, n vay ngân hàng do ông L và các con ông ký bảo lãnh và n thuế. Bà B khởi kiện và theo Quyết định số

QĐST-HGT ngày 9

của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự thì bà B phải trả cho bà Dương Thị B số tiền . 3. . đ.

Ngày 5

, ông Trương Văn X là ch p hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H kê biên khối tài sản nêu trên để đảm bảo thi hành án. Ông L và các con đã có đơn khiếu nại yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H xác định quyền sở hữu của ông L và các con ông trong khối tài sản bị kê biên nêu trên nhưng không đư c ông Trương Văn X ch p thuận. Ông X đã đại diện cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã H yêu cầu xác định và chia tài sản chung để thi hành án. Ông L có ý kiến yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu của ông và các con ông trong khối tài sản nêu trên, xác định giá trị thuộc quyền sở hữu của bà B để đảm bảo thi hành án. Ông L và các con yêu cầu đư c nhận lại tài sản thuộc quyền sở hữu h p pháp của mình. Ngày

3, tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, ông X triệu tập ông L và các con đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H. Tại đây, các bên đã thỏa thuận thi hành án dư i sự chủ trì của ông X. Nội dung như sau: Tài sản nêu trên đư c bán cho ông Trần Trung T v i giá . . . đ, số tiền này sau khi trả n hết cho Ngân hàng số còn lại số tiền . . đ, số tiền này 5 % là thuộc sở hữu của ông Trần Văn L tức là 3 . . đ . Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H đã rút yêu cầu khởi kiện và Tòa án nhân dân thị xã H đã đình chỉ vụ án.

Trong khi chờ nhận lại tiền, thì Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H ban hành quyết định cư ng chế số 39 QĐ-CCT ngày 05/9/2 3 áp dụng biện pháp cư ng chế thu giữ toàn bộ số tiền 3 . . đ của ông L để thực hiện việc thu n thuế cho DNTN B. Ngoài việc ông L và các con đồng ý d ng tài sản trên ký bảo lãnh thế ch p ngân hàng cho DNTN B thì ông L và các con không ký cho, t ng, ủy quyền gì cho cá nhân bà B ho c DNTN B.

- Tại bản khai ngày 17/6/2017, biên bản đối thoại ngày 29/6/2017 và tại phiên tòa, đại diện người bị kiện Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H trình bày:

Căn cứ gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà và tài sản khác g n liền v i đ t số BB 39 , do U ban nhân dân UBND thị xã H c p ngày

, mục đích sử dụng: đ t cơ sở sản xu t, kinh doanh, hạng mục công trình: nhà kho, tổng diện tích sử dụng . m2 ; căn cứ biên bản xác minh địa điểm kinh doanh của tổ chức, cá nhân kê khai đăng ký thuế ngày 9

tại trụ sở của DNTN B; kết quả xác minh về phần tài sản của doanh nghiệp gồm: Đ t: Chiều ngang 5 m, chiều dài 5 m; Nhà kho d ng để chứa hàng hóa: trị giá . . . đ; Ghe chở hàng hóa: tổng số chiếc;

Căn cứ báo cáo tài chính từ năm

đến năm

như sau: Năm

: tổng nguyên giá tài sản cố định hữu hình tăng trong năm là .9 . đ; Năm 9: tổng nguyên giá tài sản cố định hữu hình tăng trong năm là . . . đ, lũy kế cuối năm .9 5. 5. đ; Năm

: tổng nguyên giá tài sản cố định hữu hình giảm trong năm là .9 . đ, lũy kế cuối năm . . . đ.

Căn cứ theo quy định tại khoản , Điều

Luật doanh nghiệp số

5 QH ngày 9

5 quy định: “ 1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; 2. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác, đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản”;

Căn cứ theo quy định tại mục IV phần B Quyết định số 9 QĐ-TCT ngày

5 9 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về việc ban hành quy trình cư ng chế n thuế; căn cứ biên bản làm việc ngày 5

và ngày 9

giữa Chi cục Thuế thị xã H v i bà Nguyễn Thị B chủ DNTN B; kết quả làm việc thì bà Nguyễn Thị B đồng ý giao tài sản gồm nhà ở, nhà kho hàng và đ t tọa lạc tại khóm C, phường A, thị xã H cho Chi cục Thuế thị xã H hóa giá bán theo quy định để trả n thuế cho Nhà nư c. Căn cứ biên bản ngày 3

3 về việc giải quyết n thuế giữa Chi cục thuế và DNTN B, kết quả làm việc ý kiến của DNTN B như sau: số tiền n thuế trên DNTN B xác nhận là đúng và chưa nộp vào ngân sách Nhà nư c. Bà Nguyễn Thị B chủ DNTN B cam kết nộp thuế như sau: Hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự đang phát mãi tài sản và bán tài sản của doanh nghiệp của bà gồm nhà và đ t để thực hiện quyết định số

QĐDS-HGT ngày 9

của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự công nhận thỏa thuận của các đương sự v i bà Dương Thị B. Bà B đồng ý sau khi bán tài sản của doang nghiệp bà, bà sẽ nộp thuế cho Chi cục thuế thị xã H, số tiền n thuế là

. 5. 5 đ, về phần phạt chậm nộp xin nộp dần do còn phải trả n Ngân hàng và bà Dương Thị B.

Tính đến ngày

, tổng số tiền n thuế và phạt chậm nộp của DNTN B là: . . 3. đ Trong đó: tiền n thuế . 5. 5 đ, tiền chậm nộp .99 . đ . Chi cục Thuế thị xã H đã mời doanh nghiệp đến làm việc r t nhiều lần nhưng v n không nộp và để đọng n kéo dài. Căn cứ vào các cơ sở pháp lý nêu trên, Chi cục Thuế khẳng định đây là tài sản của DNTN B và DNTN B phải chịu trách nhiệm b ng tòan bộ tài sản của mình về hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, việc Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H ban hành Quyết định số 39 QĐ-CCT ngày 5 9 3 về việc áp dụng biện pháp cư ng chế b ng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tư ng cư ng chế do tổ chức, cá nhân khác đang n m giữ là đúng quy định. Do đó Chi Cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H không ch p nhận yêu cầu của ông L. Đồng thời yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã H không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc yêu cầu hủy Quyết định số 39 QĐ-CCT ngày 5 9 3 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thị xã H.

- Tại bản khai ngày 16/6/2017, biên bản đối thoại ngày 29/6/2017 người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H trình bày:

Việc ông Trần Văn L yêu cầu hủy Quyết định cư ng chế số 39 QĐ-CCT ngày 5 tháng 9 năm 3 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thị xã H là thuộc thẩm quyền xem xét giải quyết của Tòa án. Đối v i số tiền 3 . . đ, cơ quan thi hành án đã chuyển cho Chi cục Thuế thị xã H là thực hiện theo Quyết định cư ng chế số 39 QĐ-CCT ngày 5 tháng 9 năm 3 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thị xã H. Hậu quả pháp lý của việc thi hành theo Quyết định cư ng chế số 39 QĐ-CCT ngày 5 tháng 9 năm 3 của Chi cục trưởng chi cục thuế thị xã H phát sinh nếu có do Chi cục thuế thị xã H chịu trách nhiệm, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H chỉ là đơn vị ch p hành theo quyết định của Chi cục trưởng Chi cục thuế thị xã H nên không có phần trách nhiệm nếu hậu quả pháp lý có xảy ra.

- Tại bản khai ngày 27/6/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi cục Thuế thị xã H, do ông Nguyễn Văn C đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đối v i yêu cầu của ông Trần Văn L về việc yêu cầu Chi cục Thuế thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H trả lại số tiền 3 . . đ thì Chi cục Thuế thị xã H không đồng ý. Vì số tiền Chi cục Thuế cư ng chế theo Quyết định số 39 QĐ-CCT ngày 5 tháng 9 năm

3 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H là số tiền n thuế của DNTN B. Do đó, Chi cục thuế không thống nh t theo nội dung yêu cầu của ông Trần Văn L và đề nghị Tòa án không ch p nhận theo nội dung yêu cầu của ông Trần Văn L.

- Tại bản khai ngày 17/6/2017, bản đối thoại ngày 29/6/2017 và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày:

Hộ gia đình bà B gồm có 5 thành viên, bà B, ông Trần Văn L, các con là Trần Thị Q, Trần Thị Thúy H, Trần Văn T, gia đình ông L tạo lập đư c số tài sản là nhà kho diện tích 9 ,5 m2 g n liền v i thửa đ t có diện tích là . m2 thuộc thửa 5, tờ bản đồ số tọa lạc tại khóm C, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp đư c UBND thị xã H c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BB 39 số vào sổ c p GCN CH ngày

do bà B đứng tên đại diện. Bà B tự thành lập DNTN B, kinh doanh ngành lương thực, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp của bà B phá sản, n nhiều người, trong đó có n bà Dương Thị B và n thuế. Bà B khởi kiện và theo Quyết định số

QĐST-HGT ngày 9

của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự thì bà B phải trả cho bà Dương Thị B số tiền . 3. . đ.

Ngày 5

, ông Trương Văn X là ch p hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Ngự kê biên khối tài sản nêu trên để đảm bảo thi hành án. Ông L và các con đã có đơn khiếu nại yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Ngự xác định quyền sở hữu của ông L và các con ông trong khối tài sản bị kê biên nêu trên nhưng không đư c ông Trương Văn X ch p thuận. Sau đó Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự yêu cầu xác định phần sở hữu của bà B để thi hành án. Trư c yêu cầu của ông X, ông L đã có ý kiến yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu của ông các ông trong khối tài sản nêu trên, xác định giá trị thuộc quyền sở hữu của bà B để đảm bảo thi hành án. Ông L và các con yêu cầu đư c nhận lại tài sản thuộc quyền sở hữu h p pháp của mình.

Ngày

3, ông X triệu tập bà B, ông L và các con đến Chi cục Thi hành án thị xã H. Tại đây, các bên đã thỏa thuận thi hành án dư i sự chủ trì của ông X. Nội dung như sau: Tài sản nêu trên đư c bán cho ông Trần Trung T v i giá . . . đ, số tiền này sau khi trả n hết cho ngân hàng còn lại . . đ, số tiền này 5 % là thuộc sở hữu của ông Trần Văn L tức là 3 . . đ . Đáng lẽ ông L sẽ nhận đư c số tiền này là tài sản riêng của ông L Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H ban hành Quyết định cư ng chế số 39 QĐ-CCT ngày 05/9/ 3 áp dụng biện pháp cư ng chế thu giữ toàn bộ số tiền 3 . . đ của bà B để thực hiện việc thu n thuế cho bà B, là n riêng của bà B. Vì lẽ trên, bà B thống nh t theo yêu cầu của ông L yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã H hủy bỏ Quyết định cư ng chế số 39 QĐ-CCT ngày 5 9 3 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H và buộc Chi cục Thuế thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H có trách nhiệm liên đ i trả cho ông L số tiền 3 . . đ và bồi thường thiệt hại số tiền tương đương lãi su t tiền gởi ngân hàng kể từ ngày 5 9 3 đến khi xét xử xong vụ án.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2017/HC-ST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã H đã tuyên xử:

- Căn cứ Khoản Điều 3 , 3 , điểm a khoản Điều 93, Điều

, Điều 206 Luật tố tụng hành chính; Điều 9 , Điều 93, Điều 9 , Điều 95, Điều

Luật quản lý thuế sửa đổi bổ sung năm

; Điều

Luật Doanh nghiệp; khoản Điều 35 Nghị định số 9

NĐ-CP ngày tháng năm

của Chính phủ;

- Căn cứ Điều 3 Pháp lệnh số

9 UBTVQH ngày tháng năm

9 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc ông Trần Văn L yêu cầu hủy Quyết định số 39 QĐ-CT ngày 5 9

3 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H.

2. Bác yêu cầu của ông Trần Văn L về việc buộc Chi cục Thuế thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H có trách nhiệm liên đ i trả cho ông số tiền đã cư ng chế 3 . .

đồng và bồi thường thiệt hại tương đương lãi su t tính từ ngày 5 9

3 đến khi vụ án đư c xét xử xong theo lãi su t tiền gửi Ngân hàng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/9/2017, người khởi kiện là ông Trần Văn L kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số: 01/2017/HC-ST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, yêu cầu Tòa c p phúc thẩm xem xét hủy Quyết định số 39 QĐ.CCT ngày 5 9

3 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H và yêu cầu buộc Chi cục Thuế thị xã H, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H có trách nhiệm liên đ i trả cho ông số tiền đã cư ng chế 3 . .

đồng và bồi thường thiệt hại tương đương lãi su t tính từ ngày 5 9

3 đến khi vụ án đư c xét xử xong.

Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa có quan điểm như sau: Về việc ch p hành theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý đến khi xét xử, đảm bảo cho các đương sự đư c thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Về đường lối giải quyết vụ án là Bản án sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L là có căn cứ, yêu cầu kháng cáo ông L là không có căn cứ nên không đư c ch p nhận, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đối v i Quyết định số 39 QĐ-CCT ngày 05/9/2013 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thị xã H việc áp dụng biện pháp cư ng chế b ng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tư ng cư ng chế do tổ chức, cá nhân khác đang n m giữ là đối tư ng khởi kiện trong vụ án đư c ban hành đúng theo quy định trình tự, thủ tục về hình thức, nội dung, thời hiệu, thẩm quyền và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như án sơ thẩm đã nhận định.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Trần Văn L kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số: 01/2017/HC-ST ngày 5

của Tòa án nhân dân thị xã H và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý xét theo thủ tục phúc thẩm là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng hành chính đã quy định.

Về nội dung:

Đối v i yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L yêu cầu hủy quyết định số 39 QĐ-CCT ngày 5 9

3 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H về việc áp dụng biện pháp cư ng chế b ng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tư ng cư ng chế do tổ chức, cá nhân khác đang n m giữ (đối v i số tiền 3 . .

đồng , vì ông L cho r ng số tiền 3 . .

đồng đang bị cư ng chế trên là tài sản chung của hộ gia đình ông L v i bà Nguyễn Thị B chủ DNTN B và ông L cho r ng đây là số tiền thuộc sở hữu riêng của ông L nên việc Chi cục trưởng Chi cục thuế thị xã H ra quyết định áp dụng biện pháp cư ng chế đối v i số tiền trên là không đúng. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét yêu cầu của ông L về việc yêu cầu hủy quyết định số 39 QĐ-CCT ngày 5 9

3 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H là hoàn toàn không có căn cứ nên không đư c ch p nhận, bởi lẽ: Quyết định số 39 QĐ-CCT về việc áp dụng biện pháp cư ng chế b ng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tư ng bị cư ng chế do tổ chức, cá nhân khác đang n m giữ (cụ thể là cư ng chế thu giữ toàn bộ số tiền 3 . .

đồng là để thực hiện việc thu n thuế của DNTN B do bà Nguyễn Thị B là chủ doanh nghiệp , vì các tài sản gồm nhà kho có diện tích 9 ,5m2 g n liền v i thửa đ t số 5, tờ bản đồ số có diện tích là

m2, tọa lạc tại khóm C, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp đư c Ủy ban nhân dân thị xã H c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BB123947, số vào sổ c p gi y chứng nhận CH

ngày

do bà Nguyễn Thị B đứng tên gi y chứng nhận, mục đích sử dụng là đ t sản xu t kinh doanh và trên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t này đã có thể hiện tài sản trên là nhà kho của Doanh nghiệp tư nhân B trên gi y. Như vậy, cho th y số tài sản này các thành viên trong hộ bà B đã thống nh t giao cho bà Nguyễn Thị B (chủ DNTN B) đưa vào làm nguồn vốn để sản xu t kinh doanh nên khi bị thua l , phá sản thì DNTN B phải chịu trách nhiệm b ng tài sản của mình là ph h p theo quy định tại khoản 1, 2 Điều

Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 đã quy định: “1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; 2. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác, đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản”. Đồng thời, theo biên bản làm việc ngày 5

và ngày 9

giữa Chi cục Thuế thị xã H v i bà Nguyễn Thị B (chủ DNTN B) thì bà Nguyễn Thị B đồng ý giao toàn bộ số tài sản trên gồm nhà ở, nhà kho hàng và đ t tài sản của DNTN B tọa lạc tại khóm C, phường A, thị xã H cho Chi cục Thuế thị xã H hóa giá bán theo quy định để trả n thuế cho Nhà nư c, nhưng Chi cục Thuế thị xã H chưa thực hiện việc bán hóa giá theo tự nguyện của bà B (chủ DNTN B) thì các tài sản trên của DNTN B đã bị Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H kê biên phát mãi để thi hành cho Ngân hàng và cho bà Nguyễn Thị B. Bà B đã tự nguyện thỏa thuận bán toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho Trần Văn T v i giá 1.800.000.000 đồng, bà B thi hành cho Ngân hàng Thương mại cổ phần TMCP Công thương Đồng Tháp còn lại 9. . đ thi hành án cho bà B 308.040.000 đồng và trừ các chi phí còn lại 3 . . 00 đồng số tiền này v n là khoản tiền của DNTN B, trong khi đó DNTN B còn n tiền thuế Nhà nư c nhưng bà Nguyễn Thị B (chủ DNTN B) không thực hiện trả n thuế cho Nhà nư c mà cho r ng số tiền trên là tài sản của hộ gia đình và cùng các thành viên trong hộ thỏa thuận chia tài sản đối v i số tiền 308.040.000 đồng trên là chưa đúng theo quy định của pháp luật; M t khác, DNTN B do bà Nguyễn Thị B đứng tên chủ doanh nghiệp, trong khi đó ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị B có mối quan hệ là v chồng c ng chung sống và c ng nhau hoạt động kinh doanh tại DNTN B, do đó việc bà B đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân và đăng ký kê khai thuế thì ông Trần Văn L đều biết và không có ý kiến gì, đồng thời trong quá trình tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm thì ông Lương Tống T đại diện theo ủy quyền của ông L trình bày là ông L đều biết việc bà B đưa các tài sản trên tài sản của DNTN B vào DNTN B để hoạt động sản xu t kinh doanh và ông L cũng là người trực tiếp c ng bà B sử dụng số tài sản trên để thực hiện các giao dịch cho hoạt động kinh doanh của DNTN B như: Ông L đồng ý ký thế ch p các tài sản trên cho Ngân hàng để vay vốn cho DNTN B kinh doanh và ông L c ng bà B trực tiếp d ng tài sản trên để ký kết h p đồng mua bán, vận chuyển lúa gạo cho DNTN B, đồng thời trong thời gian kinh doanh có phát sinh l i nhuận cho DNTN B thì ông L c ng gia đình đều sử dụng số tiền l i nhuận này để sử dụng cho mục đích chung cho gia đình... Như vậy, việc ông L trình bày cho r ng việc bà B đưa số tài sản trên vào kinh doanh cho DNTN B thì ông L không biết là hoàn toàn không có căn cứ nên không đư c ch p nhận.

Đối v i yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L về việc yêu cầu Chi cục Thuế thị xã H c ng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H có trách nhiệm liên đ i trả cho ông L số tiền 3 . .

đồng và bồi thường thiệt hại số tiền tương đương lãi su t tiền gửi Ngân hàng kể từ ngày 5 9

3 đến khi xét xử xong vụ án, vì ông L cho r ng số tiền 3 . .

đồng trên là thuộc sở hữu của riêng ông, đáng lẽ ông đư c nhận số tiền này nhưng Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H ban hành Quyết định cư ng chế số 39 QĐ-CCT ngày 5 9

3 áp dụng biện pháp cư ng chế thu giữ toàn bộ số tiền 3 . .

đồng trên để thực hiện việc thu n thuế của DNTN B, ông L cho r ng khoản n thuế trên là khoản n riêng của DNTN B. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét th y: đối v i số tiền 3 . .

đồng trên là nguồn tiền do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã phát mãi trong số tài sản gồm: nhà kho, đ t, nhà ở c p của DNTN B theo biên bản kê kiên ngày 5

, nhưng do DNTN B còn n thuế Nhà nư c nên ngày 5 9

3 Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã Hồng Ngự ban hành Quyết định số 39 QĐ-CCT về việc áp dụng biện pháp cư ng chế b ng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tư ng bị cư ng chế do tổ chức, cá nhân khác đang n m giữ để yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H chuyển số tiền trên để trả n thuế cho Nhà nư c. Do đó, xét yêu cầu đòi và bồi thường đối v i số tiền trên của ông Trần Văn L là hoàn toàn không có căn cứ nên không ch p nhận như Hội đồng xét xử đã phân tích trên.

Như vậy, trường h p Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H phát mãi số tài sản của DNTN B gồm nhà kho, đ t, nhà ở c p của bà Nguyễn Thị B chủ DNTN B đối v i số tiền còn lại 308.040.000 đồng là do DNTN B còn n thuế Nhà nư c, nên Chi cục Thuế thị xã H ban hành Quyết định số 39 QĐ-CCT ngày 5 9

3 về việc áp dụng biện pháp cư ng chế b ng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tư ng bị cư ng chế do tổ chức, cá nhân khác n m giữ là đúng trình tự, thủ tục ban hành Quyết định. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L là hoàn toàn không có căn cứ nên không đư c ch p nhận, đồng thời giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số:

HC-ST ngày 5

của Tòa án nhân dân thị xã H là hoàn toàn có căn cứ và ph h p, đúng pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và phù h p v i quy định của pháp luật như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên đư c ch p nhận.

] Do kháng cáo không đư c ch p nhận nên ông Trần Văn L phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật ông L đã nộp xong án phí phúc thẩm).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản Điều

Luật tố tụng hành chính;

- Không ch p nhận kháng cáo của ông Trần Văn L.

- Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số

HC-ST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Căn cứ vào khoản Điều 3 , Điều

, điểm a khoản Điều 93, Điều 242 Luật tố tụng hành chính năm năm 5;

Căn cứ Luật quản lý thuế năm

Sửa đổi bổ sung năm

; Luật Doanh nghiệp năm 5;

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 39 QĐ-CT ngày 5 9

3 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã H;

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc yêu cầu Chi cục Thuế thị xã H cùng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H có trách nhiệm liên đ i trả cho ông Trần Văn L số tiền 3 . .

đồng và bồi thường thiệt hại tương đương lãi su t tính từ ngày 5 9

3 đến khi vụ án đư c xét xử.

Về án phí: Căn cứ Điều Nghị quyết số 3

UBTVQH ngày 3

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Ông Trần Văn L phải chịu

.

đồng Hai trăm ngàn đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm đã đư c kh u trừ vào

.

đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lại số 5 ngày 3

3 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H. Ông Trần Văn L không phải nộp thêm.

- Ông Trần Văn L phải chịu án phí phúc thẩm là 3 .

đồng, nhưng đư c kh u trừ vào 3 .

đồng tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 14053 ngày 07/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh Đồng Tháp Ông L đã nộp xong án phí phúc thẩm .

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ