- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim H và các nguyên đơn-Nguyễn Thanh Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim Lu, bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Mai Thị C về việc “Tranh chấp về giao dịch dân sự” đối với bà Nguyễn Thanh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/DS-ST. Ngày: 09-01-2018. V/v Tranh chấp về giao dịch dân sự. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Tất Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Thị Liễu;
2. Ông Trần Hữu Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 85/2017/TLST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh chấp về giao dịch dân sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2017/QĐXX-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Số 1188 khu phố 2, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
2. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1973. Địa chỉ: G19 khu phố 3, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
3. Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Số 84 khu phố 4, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
4. Bà Mai Thị C, sinh năm: 1965. Địa chỉ: Số 80 khu phố 4, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Bà H, bà L, bà T và bà C ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Số 40 đường C, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang theo các văn bản ủy quyền lập cùng ngày 10/4/2017 tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Kiên Giang (có mặt)
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 1963. (có mặt)
Địa chỉ: Số 304 đường C, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, đại diện hợp pháp của các đồng nguyên đơn trình bày: Vào thời điểm từ năm 2014 đến năm 2016, bà H, bà L, bà T và bà C cùng tham gia các dây hụi do bà Đ làm chủ hụi, cụ thể như sau:
1. Bà Nguyễn Thị Kim H tham gia 02 dây hụi.
- Dây Hụi thứ nhất là hụi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) mở ngày 16/12/2015 âm lịch gồm 19 phần, bà H tham gia 01 phần. Mặc dù chưa được hốt hụi nhưng sau khi xổ hụi lần thứ 14 thì bà Đ tuyên bố bể hụi. Vậy, dây hụi này bà Đ phải trả cho bà H số tiền là: 2.000.000 đồng x 14 = 28.000.000đ (Hai mươi tám triệu đồng);
- Dây hụi thứ hai là hụi tuần 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), hụi mở vào thứ 4 ngày 18/5/2016 âm lịch gồm 66 phần, bà H tham gia 04 phần. Mặc dù chưa được hốt nhưng sau khi xổ hụi lần thứ 34 thì bà Đ tuyên bố bể hụi. Vậy, dây hụi này bà Đ phải trả cho bà H số tiền là: 200.000 đồng x 4 phần x 34 lần = 27.200.000đ (Hai mươi bảy triệu, hai trăm nghìn đồng).
Như vậy, bà Đ phải trả cho bà H tổng số tiền của hai dây hụi là 55.200.000đ (năm mươi lăm triệu, hai trăm nghìn đồng) có làm biên nhận nợ đề ngày 07/3/2017.
2. Bà Nguyễn Thị Kim L tham gia 01 dây hụi. Là dây hụi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) mở ngày 16/12/2015 âm lịch gồm 19 phần, bà L tham gia 01 phần. Mặc dù chưa được hốt hụi nhưng sau khi xổ hụi lần thứ 14 thì bà Đ tuyên bố bể hụi. Vậy, dây hụi này bà Đ phải trả cho bà L số tiền là: 2.000.000 đồng x 14 = 28.000.000đ (Hai mươi tám triệu đồng). Bà Đ đã trả được 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng) nên còn phải trả số tiền là 24.600.000đ (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng) có biên nhận nợ đề ngày 09/3/2017;
3. Bà Nguyễn Thị Ngọc T tham gia 01 dây hụi. Là dây hụi tuần 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) mở vào thứ tư ngày 18/5/2016 âm lịch gồm 66 phần, bà T tham gia 02 phần. Mặc dù chưa được hốt hụi nhưng sau khi xổ hụi lần thứ 34 thì bà Đ tuyên bố bể hụi. Vậy, dây hụi này bà Đ phải trả cho bà T số tiền là: 200.000 đồng x 2 phần x 34 lần = 13.600.000đ (Mười ba triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Như vậy, bà Đ phải trả cho bà T tổng số tiền hụi là 13.600.000đ (Mười ba triệu, sáu trăm nghìn đồng) có làm biên nhận nợ đề ngày 09/3/2017.
4. Bà Mai Thị C tham gia 02 dây hụi.
- Dây hụi thứ nhất là hụi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) mở ngày 22/11/2014 âm lịch gồm 29 phần, bà C tham gia 01 phần. Mặc dù chưa được hốt hụi nhưng sau khi sổ hụi lần thứ 26 thì bà Đ tuyên bố bể hụi. Vậy, dây hụi này bà Đ phải trả cho bà C số tiền là: 1.000.000đ x 26 lần = 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng).
- Dây hụi thứ hai cũng là hụi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) mở ngày 12/12/2016 âm lịch gồm 26 phần, bà C tham gia 01 phần. Dây hụi này bà C mới góp được 02 lần thì bà Đ tuyên bố bể hụi nên bà Đ phải trả lại cho bà C số tiền hụi là 1.000.000đ x 2 lần = 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Như vậy, bà Đ phải trả cho bà C tổng số tiền của 02 dây hụi là 28.000.000đ (Hai mươi tám triệu đồng) có biên nhận đề ngày 09/3/2017. Sau đó bà Đ đã trả được 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) nên số tiền còn phải trả là 27.400.000đ (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Các nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu tính lãi.
* Tại bản tự khai đề ngày 02/8/2017, bị đơn – bà Nguyễn Thanh Đ trình bày: Bà Đ thừa nhận vào thời điểm từ năm 2014 đến năm 2016, bà H, bà T, bà L và bà C là hụi viên tham gia các dây hụi do bà làm chủ. Khoảng tháng 01/2017, bà tuyên bố bể hụi. Bà Đ thừa nhận còn nợ tiền hụi của các nguyên đơn cụ thể như sau:
- Nợ bà Nguyễn Thị Kim H tổng số tiền gốc của 02 dây hụi là 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng).
- Nợ bà Nguyễn Thị Kim L tổng số tiền của 01 dây hụi là 24.100.000đ (Hai mươi bốn triệu, một trăm nghìn đồng);
- Nợ bà Nguyễn Thị Ngọc T tổng số tiền của 01 dây hụi là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng);
- Và nợ bà Mai Thị C tổng số tiền của 02 dây hụi là 27.400.000đ (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Nay, bà Đ đồng ý trả nợ cho các nguyên đơn nhưng xin trả dần hàng tháng cụ thể: Hàng tháng trả nợ vào ngày 10 âm lịch sẽ trả cho bà H số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà L số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), bà T số tiền là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) và bà C số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đến khi hết nợ.
Đối với 04 biên nhận nợ do các nguyên đơn cung cấp tại Tòa án, bà Đ chỉ thừa nhận có một biên nhận với bà H là chữ ký và chữ viết của bà, còn các biên nhận với bà L, bà T và bà C thì bà Đ không thừa nhận chữ ký và chữ viết trong biên nhận là của bà Đ.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Yêu cầu Tòa án buộc bị đơn – bà Nguyễn Thanh Đ phải thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nợ hụi cụ thể như sau:
- Trả cho bà Nguyễn Thị Kim H số tiền là 55.200.000đ (Năm mươi lăm triệu, hai trăm nghìn đồng);
- Trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền là 24.600.000đ (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng);
- Trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc T số tiền là 13.600.000đ (Mười ba triệu, sáu trăm nghìn đồng);
- Và trả cho bà Mai Thị C số tiền là 27.400.000đ (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng). Các nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu tính lãi.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Về nội dung vụ án
Các đồng nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất thừa nhận: Trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2016, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Mai Thị C và bà Nguyễn Thị Ngọc T có tham gia các dây hụi do bà Nguyễn Thanh Đ làm chủ hụi. Các dây hụi chưa đến ngày mãn hụi thì bà Đ tuyên bố bể hụi, không tiếp tục các dây hụi nữa nhưng cũng không trả lại tiền góp hụi nên các nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án. Do đó, yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có cơ sở xác định việc nợ hụi là có thật. Tuy nhiên các bên không thống nhất về số tiền hụi còn nợ, cụ thể như sau:
- Bà Nguyễn Thị Kim H trình bày bà Đ phải trả tổng số tiền nợ gốc của 02 dây hụi là 55.200.000đ (Năm mươi lăm triệu, hai trăm nghìn đồng) theo Giấy nợ trả tiền hụi đề ngày 07/3/2017.
Tuy nhiên, bà Đ chỉ thừa nhận số tiền nợ hụi là 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng) nhưng không cung cấp được chứng từ, sổ sách để chứng minh, và xin trả dần mỗi tháng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đến khi hết nợ; đồng thời cũng thừa nhận chữ ký và chữ viết “Nguyễn Thanh Đ” trong biên nhận do nguyên đơn cung cấp là của bà.
- Bà Nguyễn Thị Kim L trình bày sau khi đã trừ 3.400.000đ (Ba triệu, bốn trăm nghìn đồng) bà Đ phải còn phải trả số tiền nợ hụi là 24.600.000đ (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo Biên nhận nợ hụi đề ngày 09/3/2017. Nhưng bà Nguyễn Thanh Đ chỉ thừa nhận số tiền nợ hụi là 24.100.000đ (Hai mươi bốn triệu, một trăm nghìn đồng), và xin trả dần mỗi tháng 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đến khi hết nợ.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày bà Đ phải trả số tiền nợ hụi là 13.600.000đ (Mười ba triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo Biên nhận nợ hụi đề ngày 09/3/2017. Nhưng bà Nguyễn Thanh Đ chỉ thừa nhận số tiền nợ hụi là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) và xin trả dần mỗi tháng 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đến khi hết nợ.
- Bà Mai Thị C trình bày bà Đ phải trả tổng số tiền nợ gốc của 02 dây hụi là 28.000.000đ (Hai mươi tám triệu đồng) theo Biên nhận nợ hụi đề ngày 09/3/2017. Sau khi làm biên nhận thì bà Đ đã trả cho bà C số tiền là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) nên nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất số tiền nợ hụi bà Đ còn phải trả tiếp là 27.400.000đ (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Xét, việc tham gia góp hụi giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện và không phạm điều cấm của pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 19 của Nghị định 144/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về Họ, hụi, biêu, phường.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, lời trình bày của các nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ mà các nguyên đơn cung cấp bà Đ xác nhận việc nợ hụi là có thật, thống nhất số tiền nợ hụi của bà C và chứng cứ của bà H, không thống nhất số tiền và chứng cứ của các nguyên đơn còn lại nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Bà Đ chỉ thừa nhận vào ngày 09/3/2017, có bà L, bà T và bà C cùng đến nhà bà Đ để xác nhận số tiền nợ hụi và bà Đ có ký 03 biên nhận nhưng nội dung và chữ ký trong các biên nhận do nguyên đơn cung cấp tại Tòa thì bà không thừa nhận. Mặt khác, ngày 09/8/2017 Tòa án cũng đã ra Thông báo cho bà Đ về việc nộp tạm ứng chi phí giám định nhưng bà không thực hiện nên Hội đồng xét xử không có cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích cho bà.
Quá trình tham gia góp hụi, các nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của hụi viên là góp các phần hụi cho chủ hụi. Bà Nguyễn Thanh Đ tuyên bố bể hụi trong khi các dây hụi chưa mãn là đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi về việc giao các phần hụi cho các thành viên được lĩnh hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 15, Điều 22 và Điều 29 Nghị định 144/NĐ- CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường do đó các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Đương trả tiền nợ hụi là có cơ sở. Áp dụng Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, bà L bà T và bà C buộc bà Đ phải có nghĩa vụ thanh toán cho các nguyên đơn số tiền nợ hụi cụ thể như sau:
- Trả cho bà Nguyễn Thị Kim H tổng số tiền nợ gốc của 02 dây hụi là 55.200.000đ (Năm mươi lăm triệu, hai trăm nghìn đồng) theo Giấy nợ trả tiền hụi đề ngày 07/3/2017.
- Trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền nợ hụi là 24.600.000đ (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo Biên nhận nợ hụi đề ngày 09/3/2017.
- Trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc T số tiền nợ hụi là 13.600.000đ (Mười ba triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo Biên nhận nợ hụi đề ngày 09/3/2017.
- Trả cho bà Mai Thị C số tiền nợ gốc của 02 dây hụi là 27.400.000đ (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng) theo Biên nhận nợ hụi đề ngày 09/3/2017.
Đối với nội dung bà Đ trình bày do có nhiều hụi viên trong các dây hụi nêu trên sau khi đã hốt hụi thì không thực hiện nghĩa vụ góp hụi nữa nên bà không có tiền để thanh toán cho các nguyên đơn. Vậy, nếu như bà Đ có tranh chấp và có chứng cứ thì cũng có quyền khởi kiện các hụi viên trên thành vụ kiện dân sự khác.
Đối với quyền yêu cầu bồi thường của hụi viên và lãi chậm thanh toán do chủ hụi không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 13 Nghị định 144/NĐ- CP quy định về họ hụi, biêu, phường, các nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu bị đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với yêu cầu xin trả nợ dần của bị đơn, phía các nguyên đơn không đồng ý mà yêu cầu phải thanh toán một lần, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để ghi nhận. Mặt khác, yêu cầu này của các bên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo hướng dẫn tại Mục 1 Phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Do yêu cầu của các nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn không phải chịu tiền án phí và bị đơn – bà Nguyễn Thanh Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch cụ thể như sau:
- Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Nguyễn Thị Kim H là 55.200.000đ x 5% = 2.760.000đ (Hai triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Nguyễn Thị Kim L là 24.600.000đ x 5% = 1.230.000đ (Một triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng).
- Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Nguyễn Thị Ngọc T là 13.600.000đ x 5% = 680.000đ (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
- Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Mai Thị C là 27.400.000đ x 5% = 1.370.000đ (Một triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 1 Điều 302, Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 3 Điều 15, Điều 22 và Điều 29 của Nghị định 144/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim Lu, bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Mai Thị C về việc “Tranh chấp về giao dịch dân sự” đối với bà Nguyễn Thanh Đ.
2. Buộc bà Nguyễn Thanh Đ có nghĩa vụ:
- Thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim H tổng số tiền nợ gốc của 02 dây hụi là 55.200.000đ (Năm mươi lăm triệu, hai trăm nghìn đồng).
- Thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền nợ hụi là 24.600.000đ (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng.
- Thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ngọc T số tiền nợ hụi là 13.600.000đ (Mười ba triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- Thanh toán cho bà Mai Thị C tổng số tiền nợ gốc của 02 dây hụi là 27.400.000đ (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bà H, bà L, bà T, bà C có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Đ không trả số tiền nợ hụi nêu trên thì còn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Án phí sơ thẩm có giá ngạch:
- Bà Nguyễn Thanh Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch cụ thể như sau:
+ Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Nguyễn Thị Kim H là 2.760.000đ (Hai triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
+ Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Nguyễn Thị Kim L là 1.230.000đ (Một triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng).
+ Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Nguyễn Thị Ngọc T là 680.000đ (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
+ Tiền án phí đối với khoản tiền nợ hụi của bà Mai Thị C là 1.370.000đ (Một triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Trả lại tiền tạm ứng án phí cho các nguyên đơn, cụ thể:
+ Bà Nguyễn Thị Kim H được hoàn trả tạm ứng án phí số tiền 1.350.000đ (Một triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007264 ngày 28/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
+ Bà Nguyễn Thị Kim L được hoàn trả tạm ứng án phí số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007263 ngày 28/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
+ Bà Nguyễn Thị Ngọc T được hoàn trả tạm ứng án phí số tiền 340.000đ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007262 ngày 28/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
+ Bà Mai Thi C được hoàn trả tạm ứng án phí số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007261 ngày 28/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tp.Rạch Giá; - Chi cục THA dân sự tp.Rạch Giá; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Tất Ngọc Trân |